[Chakra][Thông tin chung] Biến đổi thuộc tính Chakra Biến đổi Thuộc tính Chakra

View previous topic View next topic Go down

[Chakra][Thông tin chung] Biến đổi thuộc tính Chakra Biến đổi Thuộc tính Chakra

Post by Ninnnnnn on Tue Feb 16, 2016 10:23 pm

Biến đổi Thuộc tính Chakra


Nguyên tố cơ bản | Tương sát | Thiên hướng | Nguyên tố cao cấp | Kết hợp | Âm và Dương | Ngoài lề | Tham khảo






Một ví dụ về thuật sử dụng biến đổi
thuộc tính chakra Hỏa




Biến đổi Thuộc tính Chakra (性質変化, Seishitsu Henka, Tính Chất Biến Hóa) là kĩ năng cao cấp của Điều khiển Chakra, bao gồm nén và định tính chakra vào một loại trong thuộc tính chakra, làm thay đổi các tính chất và đặc điểm của nó. Biến đổi Thuộc tính là một trong số hai kĩ thuật cần thiết để tạo ra một thuật của ninja, kĩ thuật còn lại là Biến đổi Hình thái. Không nhiều shinobi có khả năng vận dụng hiệu quả cả hai loại hình biến đổi chakra này.



Các nguyên tố cơ bản



Vòng tuần hoàn các nguyên tố, theo chiều kim đồng hồ từ vị trí cao nhất : Hỏa, Phong, Lôi, Thổ và Thủy. Chiều mũi tên biểu thị quan hệ xung (thuộc tính trước mạnh hơn thuộc tính sau)
Có tất cả năm loại cơ bản mà chakra có thể chuyển hóa thành, được gọi là Năm Nguyên tố Biến đổi Thuộc tính (五大性質変化, Godai Seishitsu Henka, Ngũ Đại Tính Chất Biến Hóa). Năm loại này được gọi là các nguyên tố (hay các thuộc tính), không những là nguồn gốc tên gọi của Ngũ Đại Quốc Ninja mà còn là nền tảng cho mọi loại nhẫn thuật thuộc tính tự nhiên. Năm thuộc tính cơ bản có mối liên hệ với nhau theo một vòng tuần hoàn, mỗi thuộc tính đều mạnh hơn một và yếu hon một thuộc tính khác.

Các nguyên tố sau đây cho phép thi triển nhẫn thuật thuộc tính tự nhiên :
Hỏa là loại chakra thuộc tính cho phép thi triển Hỏa độn, mạnh hơn Phong nhưng yếu hơn Thủy.
Phong là loại chakra thuộc tính cho phép thi triển Phong độn, mạnh hơn Lôi nhưng yếu hơn Hỏa.
Lôi là loại chakra thuộc tính cho phép thi triển Lôi độn, mạnh hơn Thổ nhưng yếu hơn Phong.
Thổ là loại chakra thuộc tính cho phép thi triển Thổ độn, mạnh hơn Thủy nhưng yếu hơn Lôi.
Thủy là loại chakra thuộc tính cho phép thi triển Thủy độn, mạnh hơn Hỏa nhưng yếu hơn Thổ.
Nói một cách đơn giản, khi một nhẫn thuật thuộc tính tự nhiên đối kháng với một nhẫn thuật thuộc tính tự nhiên khác cùng cấp độ nhưng mạnh hơn về mặt nguyên tố, thuật nguyên tố mạnh hơn sẽ áp đảo. Tuy nhiên, một thuật có thuộc tính nguyên tố yếu hơn vẫn có thể thắng được một thuật có thuộc tính mạnh hơn nếu thuật đó ở cấp độ cao hơn, ví dụ như một thuật Thủy độn đơn thuần không thể dập tắt được một thuật Hỏa độn có tăng cường thêm Phong độn : trong trận chiến của Đội 10 với Kakuzu – Hidan, khi Kakashi cố gắng vô hiệu hóa nhẫn thuật kết hợp Phong – Hỏa của Kakuzu bằng Thủy độn : Thủy Trận Bích, anh ta đã thất bại; tuy nhiên sau đó, thuật này bị giải trừ bởi sự kết hợp của Thủy và Phong : Cụ Phong Thủy Oa.

Tương sát


Trong mối quan hệ giữa các thuộc tính chakra, có một nguyên tắc được gọi là Tương sát (相殺, Sōsai). Nguyên tắc này được phát biểu như sau : hai thuật của cùng một thuộc tính sẽ triệt tiêu lẫn nhau nếu lượng chakra được phân bổ sử dụng vào hai thuật là như nhau. Ví dụ, trong trận chiến của Kakashi với Kakuzu, anh ta vô hiệu hóa được Lôi độn : Ngụy Ám của Kakuzu bằng cách làm chệch hướng của thuật với chính Lôi Thiết (Raikiri) của mình.

Tuy nhiên, nếu một trong hai thuật có lượng chakra thi triển cao hơn, nó sẽ áp đảo được thuật còn lại. Không chỉ vậy, nó còn có thể hấp thu thuật yếu hơn, khiến cho người sử dụng thuật yếu hơn có thể phải chịu thương tích nặng hơn so với nguyên bản thuật mà mình thực hiện lúc trước. Dẫn chứng điển hình cho nguyên tắc này là trong trận quyết chiến của hai anh em Uchiha, cả hai đều sử dụng Hỏa độn: Thuật Hào Hỏa Cầu hướng đến người kia và thuật của Sasuke bắt đầu áp đảo Itachi khi cậu ta khởi động Ấn chú Thiên. Đáng lẽ ra Itachi sẽ phải hứng chịu cả hai thuật của chính mình và của Sasuke, tuy nhiên anh ta đã kịp phản ứng lại bằng cách kích hoạt Amaterasu, nhẫn thuật Hỏa độn ở đẳng cấp cao nhất. Amaterasu nuốt trọn tất cả lửa được thổi ra trước đó bởi hai người dùng và lan rộng ra thành một đám lửa đen rất lớn.

Thiên hướng/ Tố chất chakra


Nhìn chung, mỗi người đều có chakra tương thích với một trong năm thuộc tính cơ bản. Đặc điểm này có vẻ như thuộc về di truyền, bởi đôi khi cả gia tộc cùng có chung một thiên hướng chakra, ví dụ như đa số thành viên của gia tộc Uchiha chuyên về sử dụng các thuật thuộc tính Hỏa.

Để biết được tố chất chakra của một người, những tấm giấy làm từ gỗ của một loại cây đặc biệt (nuôi trồng bằng chakra) được sử dụng : chúng phản ứng rất nhạy với chakra, cho dù chỉ là một lượng chakra vô cùng nhỏ, theo nhiều cách tùy thuộc vào thuộc tính ẩn chứa trong chakra.


Kết quả phản ứng của tờ giấy
đặc biệt với chakra của Kakashi:
bị nhăn.
Phản ứng của giấy chakra như sau:

* Hỏa: tờ giấy sẽ bốc cháy thành tro bụi.
* Phong: tờ giấy bị cắt làm đôi.
* Lôi: tờ giấy nhăn nhúm lại.
* Thổ: tờ giấy nát vụn.
* Thủy: tờ giấy bị ướt/ẩm

Sự tương thích này khiến cho việc thi triển và điều khiển thuộc tính chakra dễ dàng hơn, tuy nhiên kể cả là có thiên hướng đi chăng nữa, quá trình lĩnh hội hoàn toàn cũng phải mất đến vài năm. Dẫu vậy, năng lực của các ninja trong thiên hướng của mình là không bị giới hạn. Đến khi trở thành jounin, đa số ninja đều sở hữu hai thuộc tính.

Bản thân quá trình lĩnh hội một thuộc tính đã là khó khăn và đòi hỏi nhiều thời gian, công sức nên việc thuần thục được cả năm thuộc tính chakra là gần như bất khả thi đối với một người thông qua các phương pháp luyện tập bình thường. Tuy nhiên, ninja sở hữu Rinnegan hoặc Ba Tiêu Phiến có thể sử dụng cả năm nguyên tố, ngoài ra còn có Kakuzu do hắn đã cướp tim của những người khác trữ trong mình. Trong anime, Fūka làm được điều này nhờ vào cướp chakra của người khác. Trong Naruto Shippūden 3: Người kế thừa Hỏa Chí, tương truyền rằng người nào hấp thụ được năm Huyết kế Giới hạn bằng Thuật Chimera sẽ có được năng lực sử dụng hoàn hảo cả năm nguyên tố.

Các nguyên tố cao cấp



Mối quan hệ giữa các nguyên tố cao cấp
Bên cạnh năm thuộc tính chakra tự nhiên cơ bản, có nhiều loại thuộc tính cao cấp hơn. Bằng cách chuyển hóa đồng thời nhiều hơn một loại thuộc tính chakra cơ bản, một ninja có thể tạo ra một thuộc tính chakra hoàn toàn mới với các tính chất đặc biệt và được gọi là “loại thuộc tính tái thiết nguyên tố”. Làm được điều này đòi hỏi năng lực đặc biệt và những năng lực như thế thường hiếm khi được bắt gặp ngoài Huyết kế Giới hạn hay Huyết kế Đào thải. Trong anime, nhiều người cho rằng những ninja có năng lực sử dụng thuộc tính phát triển sở hữu thiên hướng với các thuộc tính mà họ phải đồng thời kích hoạt khi tạo ra thuộc tính phát triển.

Tính đến thời điểm hiện tại, đã có 14 thuộc tính cao cấp được phát hiện :
Thuộc tính Băng (氷, Kōri, nghĩa là ‘băng tuyết’) được sử dụng bởi Haku và tộc Yuki, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Thủy và thuộc tính Phong. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Băng độn (氷遁, Hyōton) thông qua Huyết kế Giới hạn.
Các ninja làng Tuyết có khả năng sử dụng một loại Băng độn khác bằng cách tập trung băng, tuyết và giá lạnh có sẵn xung quanh. Đây không phải là huyết kế giới hạn do Kakashi có thể sao chép được một trong số các thuật này bằng Sharingan. Có lẽ đây là một lỗi sai, bởi huyết kế giới hạn của tộc Yuki chưa được gọi là “Băng độn” tại thời điểm đó cũng như các dữ liệu chi tiết về sự biến đổi thuộc tính chưa được tiết lộ; nghĩa là nhà làm phim Naruto the Movie: Ninja đụng độ tại Tuyết Quốc đã có cơ hội “sáng tạo” ra loại thuộc tính “mới” này. Đồng thời, các thuật về băng của Haku có nhiều hiệu ứng dị biệt đặc trưng, trong khi đó Băng độn nói trên lại đa phần tập trung khai thác những hiệu ứng thông thường của băng như đông lạnh.
Thuộc tính Mộc (木, Ki, nghĩa là ‘cây’, ‘gỗ’) được sử dụng bởi Senju Hashirama, Yamato, Shimura Danzō, Uchiha Madara, Zetsu và Uchiha Obito, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Thổ và thuộc tính Thủy. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Mộc độn (木遁, Mokuton) thông qua Huyết kế Giới hạn.
Thuộc tính Dung Nham (溶岩, Yōgan, nghĩa là ‘dung nham từ núi lửa’), được sử dụng bởi Son Gokū và jinchūriki của nó Rōshi, cũng như Terumī Mei, Kurotsuchi và Dodai, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Hỏa và thuộc tính Thổ. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Dung độn (熔遁; 溶遁, Yōton). Tứ Vĩ Son Gokū và Rōshi sử dụng Dung độn thông qua Kĩ năng Vĩ thú, còn Mei, Kurotsuchi và Dodai sử dụng thông qua Huyết kế Giới hạn.
Hai cách viết tên thuộc tính (熔遁; 溶遁, Yōton) ngầm định rằng hai loại thuật này có sự khác biệt. Theo tiến trình cốt truyện, hai tên gọi được đổi chéo và thay thế lẫn nhau, với các ninja làng Đá và làng Mây sử dụng chữ Hán “熔”(có bộ hỏa) còn các nhân vật đến từ làng Sương mù sử dụng chữ Hán “溶” (có bộ thủy). Tuy nhiên, mục đích thực sự của sự khác biệt này vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Thuộc tính Viêm (炎, Honō, nghĩa là ‘ngọn lửa dữ dội, rực sáng’) được sử dụng bởi Uchiha Sasuke, bắt nguồn từ ngọn lửa của Amaterasu. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Viêm độn (炎遁, Enton). Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
Thuộc tính Lam (嵐, Arashi, nghĩa là ‘bão tố’) được sử dụng bởi Darui, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Lôi và thuộc tính Thủy. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Lam độn (嵐遁, Ranton) thông qua Huyết kế Giới hạn.
Trong phim Naruto Shippūden 3: Người kế thừa Hỏa Chí, có một nhân vật tên là Hiruko có khả năng sử dụng Lam độn. Tuy nhiên Lam độn đó và Lam độn của Darui là hai loại thuật khác nhau bởi Hiruko là nhân vật chỉ xuất hiện trong phim và Darui chưa được giới thiệu trong manga gốc tại thời điểm ra mắt phim, hơn nữa giữa các thuật thuộc tính mà hai người sử dụng có sự khác biệt rất lớn.
Thuộc tính Phí Đằng (沸騰, Futtō, nghĩa là ‘hơi sôi bốc lên’) được sử dụng bởi Terumī Mei, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Thủy và thuộc tính Hỏa. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Phí độn (沸遁, Futton) thông qua Huyết kế Giới hạn.
Thuộc tính Trần (塵, Chiri, nghĩa là ‘bụi’) được sử dụng bởi Ōnoki và Mū, được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Hỏa, thuộc tính Thổ và thuộc tính Phong. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Trần độn (塵遁, Jinton) thông qua Huyết kế Đào thải (hay Huyết kế Chọn lọc).
Thuộc tính Bộc Phát (爆発, Bakuhatsu, nghĩa là ‘vụ nổ’) được sử dụng bởi Gari và Deidara. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Bộc độn (爆遁, Bakuton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
Thuộc tính Chước Nhiệt (灼熱, Shakunetsu, nghĩa là ‘sức nóng thiêu cháy’) được sử dụng bởi Pakura. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Chước độn ((灼遁, Shakuton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
Thuộc tính Từ Lực (磁力, Jiryoku, nghĩa là ‘lực từ, từ tính’) được sử dụng bởi Toroi, Kazekage đệ Tam và đệ Tứ. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Từ độn (磁遁, Jiton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
(Chỉ trong anime) Thuộc tính Kết Tinh (結晶, Kesshō, nghĩa là ‘tinh thể đông kết’) được sử dụng bởi Guren, theo phỏng đoán nó được tạo ra bằng cách đồng thời kết hợp thuộc tính Thổ và một thuộc tính khác chưa xác định. Thuộc tính này cho phép thi triển nhẫn thuật Tinh độn (晶遁, Shōton).
(Chỉ trong phim) Thuộc tính Minh Ám (冥暗, Meian, nghĩa là ‘bóng tối’) bị đánh cắp sử dụng bởi Hiruko, cho phép thi triển nhẫn thuật Minh độn (冥遁, Meiton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
(Chỉ trong phim) Thuộc tính Cương (鋼, Hagane, nghĩa là ‘thép’) bị đánh cắp sử dụng bởi Hiruko, cho phép thi triển nhẫn thuật Cương độn (鋼遁, Kōton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
(Chỉ trong phim) Thuộc tính Tấn Tốc (迅速, Jinsoku, nghĩa là ‘tốc độ cao’) bị đánh cắp sử dụng bởi Hiruko, cho phép thi triển nhẫn thuật Tấn độn (迅遁, Jinton) thông qua Huyết kế Giới hạn. Hiện vẫn chưa rõ các thuộc tính cấu thành là gì.
Kết hợp với Biến đổi Hình thái


Bài chính: Biến đổi Hình thái Chakra.

Nếu Biến đổi Thuộc tính chủ yếu làm thay đổi bản chất của chakra thì Biến đổi Hình thái cho phép các ninja làm thay đổi hình dạng và hoạt động của chakra để từ đó thay đổi năng lực chakra. Nhờ kĩ thuật này, một thuật như Rasengan có thể biến thành Phong độn : Rasengan hay Phong độn : Rasenshuriken khi thuộc tính Phong được kết hợp cùng với chuyển động của chakra. Tính chất cắt xẻ của chakra Phong được vận dụng đồng thời với biến đổi hình thái thành hàng triệu thanh đao có kích thước cực nhỏ bên trong khối cầu, kết quả thu được là một nhẫn thuật có uy lực gia tăng gấp bội (trận Naruto vs. Kakuzu).

Âm và Dương


Bên cạnh năm loại cơ bản trong Biến đổi Thuộc tính còn có loại thứ sáu : Âm (陰, In) – căn nguyên của trí tưởng tượng và năng lượng tinh thần, được sử dụng để thi triển Âm độn (陰遁, Inton) – và Dương (陽, Yō) – căn nguyên của sức sống và năng lượng cơ thể, được sử dụng để thi triển Dương độn (陽遁, Yōton). Cả hai được sử dụng để thi triển Âm – Dương độn (陰陽遁, Onmyōton). Yamato hàm ý rằng Âm và Dương là nguồn gốc sáng tạo ra các thuật phi thuộc tính đặc biệt như Thuật Ảnh Chân Tự, Thuật Đa Bội Hóa, Y liệu nhẫn thuật, Ảo thuật…

Theo phỏng đoán, sự chuyển hóa Âm và Dương có liên quan đến việc biến đổi định lượng và cân bằng giữa năng lượng cơ thể và năng lượng tinh thần trong chakra. Nara Shikamaru từng giải thích về Ma Cảnh Loạn của Tayuya rằng chúng (những con sâu kì quái thân dài và trong suốt) là một dạng của năng lượng tinh thần có chứa rất ít năng lượng cơ thể, bởi vậy chúng chỉ ăn năng lượng cơ thể của đối phương để hoàn thiện bản thân. Shikamaru cũng đề cập rằng Tayuya là ninja cùng một loại với cậu, có khả năng sử dụng những dạng “chakra đặc biệt” trong chiến đấu – điều này càng cho củng cố thêm cho quan điểm về nhẫn thuật bóng của tộc Nara được dựa trên Âm và Dương.

Ngoài lề

Các khái niệm về sự chuyển hóa thuộc tính chakra tương tự như Âm Dương Đạo (陰陽道, Onmyōdō) trong đời thực, một bộ môn kết hợp của khoa học tự nhiên và bí thuật. Nội dung của Âm Dương Đạo có quan hệ rất mật thiết với Âm Dương Ngũ Hành của triết học cổ Trung Hoa.
Các thuật như Hà Mô Du Đạn hay Ẩn Vụ đề cập đến “chuyển đổi” hoặc “hòa trộn” chakra vào vật chất nhưng chưa bao giờ được nhắc đến là phải sử dụng thuộc tính chakra nào cả. Đồng thời, các thuật như vậy không thuộc vào loại thuộc tính cao cấp bởi thực tế chúng được xếp hạng (theo S,A,B,C) và cũng không phải là huyết kế giới hạn.
Một số thuật nhất định về điều khiển vật chất (ví dụ: lụa, xương và mực) cũng thường bị nhầm thành thuộc tính chakra riêng biệt. Các loại vật chất này không thể được tạo ra nếu chỉ có chakra, nghĩa là chakra nguyên bản không bị thay đổi về bản chất thuộc tính mà chỉ được sử dụng để làm thay đổi các loại vật chất sẵn có.
Một số thuộc tính, ví dụ Bộc Phát và Từ Độn, không được gọi là thuộc tính cao cấp khi được giới thiệu lần đầu trong truyện.
Năng lực thao túng cát của Shukaku và Gaara thường được cho là thuộc tính chakra. Do Shukaku có sức mạnh điều khiển gió và Gaara có thể sử dụng cát của Shukaku để nghiền đất xung quanh thành nhiều cát hơn, một số người tin rằng bản chất năng lực nói trên là sự kết hợp của hai thuộc tính Phong và Thổ. Tuy nhiên, không có “Sa độn” nào từng được đề cập trong truyện và Shukaku được biết là sở hữu năng lực trộn lẫn cát vào trong chakra của nó để thao túng cát.
Tương truyền tấm gương Yata được nhuộm kín bởi tất cả các thuộc tính chakra để có thể tự thay đổi đặc điểm của gương và đánh bật mọi đòn tấn công. Không rõ điều này có nghĩa là gương Yata bao hàm cả thuộc tính cao cấp hay không.
Tham khảo

Naruto chương 314, trang 11-12
Naruto chương 321, trang 4-5
Naruto chương 315, trang 13
Databook thứ Ba, trang 236
Naruto chương 315, trang 15
Naruto chương 510, trang 11
Naruto chương 316, trang 9
Naruto chương 207, trang 8-9
Databook thứ Ba, trang 274-275

Nguồn: wiki/Nature_Transformation
Người dịch: Neko-baa
Trình bày: Xôi Gói Lá Bàng
Vui lòng không mang bài ra khỏi vnsharing.net!

Ninnnnnn

Total posts : 330

Back to top Go down

View previous topic View next topic Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum