[Wiki] History of the Hamburger (phần 2)

Go down

[Wiki] History of the Hamburger (phần 2) Empty [Wiki] History of the Hamburger (phần 2)

Post by mynvijap on Sat Nov 08, 2014 1:07 pm


SÁNG CHẾ


Gian hàng của William Davies Company ở Hội chợ St. Lawrence tại Toronto, Canada. Những cảnh như thế này trở nên rất phổ biến trong những năm đầu thế kỷ XX ở Mỹ và Canada khiến cho thị trường thịt phát triển nhanh chóng.

Những người nhập cư xuyên Đại Tây Dương mang theo những công thức nấu ăn và các món ăn cùng đến với vùng đất mới. Một vài tác gia đặt ra câu hỏi liệu Hamburg America Line có chính là người đã sáng chế ra món hamburger này cho người Mỹ, hay đó là sự phát sinh để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của một bộ phận những người dân thuộc địa Mỹ. Tuy nhiên, cũng có những người ủng hộ rằng chính Hamburg America Line đã mang chiếc bánh hamburger nướng đầu tiên từ châu Âu đến châu Mỹ. Dù thến nào, chiếc bánh hamburger ngày nay cũng đã trải qua rất nhiều tranh cãi về nguồn gốc xảy ra giữa những năm 1885 – 1904, nhưng có một điều không thể chối cãi rằng nó là thực phẩm được sản xuất rất nhiều vào đầu thế kỷ XX. Trong suốt hơn 100 năm sau, bánh hamburger đã lan ra toàn thế giới như kết quả tất yếu của sự nổi lên của thị trường thức ăn nhanh và một loại hình kinh doanh mới: nhượng quyền thương mại (kinh doanh chuỗi nhà hàng cùng thương hiệu).


Việc sử dụng máy công nghiệp cơ khí để băm thịt là một tiến bộ kỹ thuật khiến cho bít tết Hamburg ngày càng phổ biến. Máy xay thịt đầu tiên được phát minh vào những năm đầu của thế kỹ XIX bởi kỹ sư người Đức Karl Drais. Chiếc máy này giúp cho việc bán thịt băm nhỏ với số lượng lớn mà giá cả hợp lý. Năm 1845, đã có rất nhiều những sáng kiến nâng cấp máy xay thịt xuất hiện ở Hoa Kỳ. Những chiếc máy này thực ra đã có thể xay thịt nhỏ đến mức không thể tưởng tượng được trước khi những phát minh kia ra đời. Trước thời điểm này, thịt được xay bằng tay với những dụng cụ đặc biệt được dùng cho những mục đích khác nhau, việc này khiến số lượng thịt bò có được bị giảm đáng kể vì làm bằng tay không đáp ứng đủ nhu cầu. Việc phát minh ra máy xay thịt đã đóng góp trực tiếp vào việc phổ biến bít tết Hamburgh cũng như là thịt bò ra thị trường, điều này càng khiến cho người Mỹ không tin vào nguồn gốc Đức của món ăn này tại thời điểm đó. Thịt xay cũng được sử dụng phổ biến để chế biến ra những món ăn của người Mỹ, như là xúc xích và bánh mì thịt.

Một niken là giá tiêu chuẩn cho một chiếc hamburger trong nhiều thập kỷ ở Mỹ

Một yếu tố khác đã tạo điều kiện cho những phát minh và sự lan rộng của bánh hamburger nguyên thủy là việc tăng khả năng sản xuất thịt bò thông qua việc tăng cường số lượng vật nuôi. Cuối thế kỷ XIX, có một lượng lớn đất đai dành cho chăn nuôi gia súc tăng lên và số cao bồi được thuê cũng tăng lên, kết quả là nước Mỹ trở thành quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất và tiêu thụ thịt bò. Những năm 1880 được coi như Kỷ nguyên Vàng của thịt bò, trong thời kỳ đó việc vận chuyển thịt bò từ nông thôn đến các trung tâm đô thị bằng đường sắt là rất cần thiết và quan trọng. Việc vận chuyển này yêu cầu phải có những phương pháp bảo quản thịt, giúp vận chuyển thịt tươi đến các trung tâm đô thị và khu công nghiệp của Mỹ, trong đó có xa đông lạnh cũng như các phương pháp đóng gói thịt khác (như thịt bò muối) đã được phát triển bởi nhà công nghiệp Gustavus Swift (1839 – 1903). Khoảng thời gian này, thành phố Chicago cùng với những thành phố khác trên bờ biển phía Đông, đã trở thành trung tâm lớn chuyên sản xuất thịt bò. Thịt bò trở thành nguồn tài nguyên giá rẻ tại thời điểm đó, và nó còn phổ biến cả trong tầng lớp lao động. Điều này cho phép bít tết Hamburgh trở nên bình dân hơn với đại đa số người dân, khiến cho một số tác giả đùa rằng đây là “Giấc mơ thịt bò của nước Mỹ”. Trong thời đại này, số lượng những nhà hàng chuyên phục vụ thịt bò nướng tăng lên rõ rệt; một số nhà hàng thậm chí cong phục vụ món thịt bò ăn kèm với hải sản, món ăn được gọi là suft and turf.

Lượng sản xuất cao và tiêu thụ mạnh thịt gia súc tại Hoa Kỳ đã khiến ngành công nghiệp thịt trở thành một ngành công nghiệp lớn mạnh vào cuối thế kỷ XIX. Tham nhũng nhanh chóng trở thành vấn đề của các công ty trong ngành công nghiệp thịt gia súc, nó ảnh hưởng đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của thịt. Đầu thế kỷ XX, Upton Sinclair đã xuất bản The Jungle, một cuốn tiểu thuyết hư cấu về những câu chuyện, những âm mưu và tham nhũng xảy ra trong nội bộ ngành công nghiệp thịt tại Mỹ, như một lời tự thú của chính nền công nghiệp này. Cuốn sách đã giúp nâng cao nhận thức về sự an toàn trong chế biến, và từ đó dẫn đến sự ra đời của Đạo Luật về Thực phẩm sạch và Dược phẩm, được tài trợ bởi Cục quản lý Dược và Thực phẩm. ‘The Jungle’ là một cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử tiếp theo của chiếc bánh hamburger vì nó chỉ dẫn công chúng Mỹ thúc ép những chuỗi nhà hàng cần phải nâng cao tính vệ sinh trong chế biến thực phẩm. Năm 1993, Arthur Kallett đã xuất bản một cuốn sách tương tự, tên là “100 triệu chú chuột bạch; sự nguy hiểm trong mỗi món ăn, các loại thuốc, mỹ phẩm” (“100 million guinea pigs; Dangers in Everyday foods, drugs, and cosmetics”) trong đó cảnh báo người tiêu dùng một cách đặc biệt về nội dung chất bảo quản trong bánh hamburger.


Không biết được nguồn gốc chính xác của bánh hamburger và chắc hẳn không bao giờ có thể biết một cách chắc chắn. Phần lớn các nhà sử học tin rằng nó được phát minh bởi một đầu bếp, người đã kẹp một miếng thịt bò Hamburgh vào giữa hai lát bánh mì. Rất khó để xác định ai là người đầu tiên có ý tưởng về chiếc bánh hamburger vì không có bất kì ghi chép nào về việc này, nó chỉ được mô tả bằng lời nói và báo cáo trực tiếp với báo chí địa phương để hỗ trợ những cho sự tự nhận sáng chế.

Tuy nhiên, tất cả những tuyên bố của những nhà phát minh tiềm năng về việc sáng chế ra chiếc bánh hamburger chỉ thực sự tập trung xảy ra vào giữa những năm 1885 và 1904. Mặc cho những câu chuyện khác nhau về nguồn gốc của chiếc bánh hamburger, có rất nhiều yếu tố giống nhau trong những câu chuyện này, thì đáng chú ý nhất vẫn là việc bánh hamburger ra đời liên quan đến những sự kiện lớn như công viên giải trí, hội chợ, hội nghị, và các lễ hội. Tất cả các giả thuyết cũng đều đề cập đến những người bán hàng rong trên đường phố.


Sự ra đời của Big Mac đem đến bước đột phá cho hình ảnh của chiếc bánh hamburger

Một trong số những người có thể là cha đẻ của bánh hamburger là Charlie Nagreen (1870 – 1951) của Seymour, Wisconsin, người mà ở tuổi 15 đã bán bít tết Hamburgh từ một gian hàng đường phố tại Hội chợ hàng năm quận Outagamie. Nagreen cho biết ông đã bắt đầu kinh doanh bằng việc bán bít tết Hamburg, nhưng cũng không đạt được thu nhập cao vì người ta muốn di chuyển tự do quanh hội chợ thay vì phải đứng tại quầy của ông để ăn bít tết. Trả lời cho điều này, năm 1885 Nagreen quyết định làm dẹp miếng thịt bò nướng và kẹp chúng lại giữa hai lát bánh mì, như thế thì người đi dự hội chợ có thể đi lại tự do trong khi ăn món sanwich của ông, một sự cải tiến thu được nhiều tán thưởng của khách hàng. Chiếc bánh này bắt đầu được biết đến là “bánh Hamburger Charlie”, và sáng chế này của Nagreen đã được bày bán ở hội chợ cho đến khi ông chết vào năm 1915. Cho đến ngày hôm nay, thành tựu của ông được kỷ niệm hàng năm với cái tên “Hội chợ Burger” (Burger Fest) để tưởng nhớ những đóng góp của ông ở quê nhà Seymour.

Một cáo buộc khác cho rằng người phát minh ra bánh hamburger phải là đầu bếp Fletcher Davis (được biết đến nhiều hơn với cái tên “Ông già Dave”), người khăng khăng cho rằng mình mới là người đưa ra ý tưởng đặt miếng thịt bò vào giữa cái bánh mì vào cuối năm 1880 tại Athens, Texas. Fletcher có một quầy hàng bán cùng vợ ở hội chợ thế giới Louis vào năm 1904. Nhà báo Texas Frank X.Tolbert đã nhắc đến một người bán hàng tên Fletcher Davis, người đã phục vụ món hamburger ở một quán café tại số 115 đường Tyler ở Athens suốt những năm cuối 1880. Người dân địa phương đã chứng thực rằng Davis đã bán sanwich thịt bò suốt thời gian đó, tuy nhiên lại không có tên gọi rõ ràng cho phát minh này của mình. Suốt những năm 1980, chuỗi cửa hàng kem Dairy Queen đã làm một bộ phim tài liệu về nơi sản sinh ra chiếc bánh hamburger dựa trên câu chuyện của Davis.

Cùng năm đó Charlie Nagreen tuyên bố mình là người phát minh ra “bánh Hamburger Charlie”, anh em và cũng là những người đầu bếp đường phố Frank và Charles Menches của Akron, Ohio cũng tuyên bố đã bán rất nhiều sanwich thịt bò ở Erie County Fair. Theo anh em nhà này, cái tên Hamburger bắt nguồn từ thị trấn Hamburg, New York ở Erie County, nơi đầu tiên nó được bán ra. Tuyên bố này không mấy chứng thực trong sổ sách tài liệu, và trong trường hợp đây chỉ là do truyền miệng thì nó cũng có những mâu thuẫn.

Một phiên bản khác của câu chuyện sáng tạo ra món bánh hamburger là của đầu bếp người Đức Otto Kuasw, người đã chế biến ra món ăn sanwich rất phổ biến với các thủy thủ làm từ một lát chả thịt bò chiên bơ, ăn kèm với một quả trứng chiên, kẹp giữa hai chiếc bánh nướng trong năm 1891, tại một bưu điện ở Hamburg, Đức. Bánh sanwich này có tên là “Deutsches Beefsteak", người Đức gọi là "German beefsteak". Rất nhiều thủy thủ di chuyển trên những con thuyền giữa Hamburg và New York đưa ra yêu cầu về một chiếc bánh sanwich có “phong cách Hamburg” tương tự như thế tại những nhà hàng phục vụ món thịt bò của người Mỹ.

Có một vài nguồn cho biết bánh hamburger có thể được phát minh ra ở New Haven, Connecticut vào năm 1895. Một tờ báo địa phương khẳng định rằng Louis Lassen, một người nhập cư Đan Mạch đến Mỹ vào năm 1880, đã bán bơ và trứng rong trên phố. Năm 1974, trong một cuộc phỏng vấn trên tờ The New York Times, gia đình của Lassen khẳng định vào năm 1900 hay cũng chính là năm ông nảy ra phát minh này. Tiết lộ trong một cuộc đối đầu công khai giữa cháu trai của Louis, Kenneth Davis Lassen Fletch, và chú của ông ta, đã kí tài liệu công chứng vào năm 1900 khẳng định sự phát triển của chiếc bánh hamburger, nó nhấn mạnh sự khác nhau giữa một “bít tế hamburger” và một “bánh sanwich hamburger”. Louis’Lunch đã nướng chiếc bánh hamburger trên một bếp lò gas với ngọn lửa thẳng đứng sản xuất bởi The Bridge and Beach, Co., St.Louis, Missouri năm 1898. Chiếc bếp sử dụng bản lề dây thép cầu trường để giữ chiếc bánh hamburger được chín đều từ mọi phía. Các cầu trường này được sản xuất bởi Luigi Peiragostini và được cấp bằng sáng chế vào năm 1938.

Một chiếc bánh hamburger ngày nay với thức ăn kèm quen thuộc: Khoai tây chiên và đồ uống.

Bít tết Hamburg, từng được kẹp giữa 2 lát bánh mì, ban đầu được chuẩn bị với phong phú những thành phần bao gồm cả trong chiếc bánh sanwich và những thức ăn kèm trên đĩa. Một trong những món ăn kèm vẫn còn rất phổ biến trong món burger ngày nay là ketchup, một loại nước sốt tương cà với vị pha giữa ngọt và mặn, lần đầu tiên được sản xuất công nghiệp vào năm 1869 bởi nhà doang nghiệp và đầu bếp Henry John Heinz ở Sharpsburg, Pennsylvania. Công ty của ông được gọi với cái tên truyền thống là Anchor Pickle and Vinegar Works, nhưng đến năm 1888 nó được đổi tên thành F.&J.Heinz. Nhu cầu sử dụng ketchup của người tiêu dùng Mỹ tăng lên nhanh chóng sau ngày này, và không lâu sau bánh hamburger được ăn kèm với ketchup trở nên phổ biến rộng rãi vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Mù tạt cũng là một gia vị lâu đời không thế thiếu, người ta cho rằng nó đã được người La Mã cổ đại sử dụng những bộ quần áo làm từ nho không lên men và hột nho được gọi là “mustum ardens”. Một thành phần nữa được trộn vào trong hamburger là mayonnaise, xuất hiện vào thế kỷ XVIII ở Pháp, sau chiến thắng của hải quân Louis-François-Armand du Plessis de Richelieu tại cảng Mahon ở Menorca khoảng năm 1756.

Trong số những loại rau ăn kèm với bánh hamburger, loại đầu tiên phải kể đến trong danh sách là hành tây, thường được thái lát mịn thành vòng. Như vậy, chiếc bánh hamburger đã tiếp nối lịch sử lâu dài của món sanwich truyền thống của người Mỹ bằng việc kết hợp với những loại rau, cho dù đó là xà lách (như trong trường hợp của bánh sanwich), dưa cải bắp (như trên reuben), xà lách trộn hoặc dưa chua. Có thể là sau khi chiếc bánh hamburger được tạo ra bằng việc kết hợp giữa thịt bít tết và bánh mì, những loại rau này mới được đưa vào để khiến cho món ăn hoàn thiện và mang hương vị tự nhiên hơn. Tất cả những gia vị này được đưa vào hình ảnh của bánh hamburger truyền thống trong thời kỳ hoàng kim của nó, những năm 1940. Trong một số trường hợp khác, chiếc bánh hamburger được chế biến và thêm nếm để mang hương vị địa phương, như trong trường hợp của bánh mì kẹp thịt kiểu Tex-Mex, được phục vụ với một một bên là tương ớt carne.

Khoai tây chiên là một phát minh của những nước thấp, và nhà sử học người Bỉ Jo Gerard cho rằng nó được khởi nguồn vào khoảng năm 1680 ở cả Bỉ và Hà Lan, Tây Ban Nha, đặc biệt là trong khu vực của thung lũng Meuse giữa Dianant và Liège. Người dân khu vực này thường chuẩn bị bữa ăn với một ít cá chiên, nhưng khi sông bị đóng băng và việc đánh bắt cá là không thể, họ sẽ cắt khoai tây và chiên chúng trong dầu động vật. Khoai tây chiên được biết đến như một món ăn nhẹ trong những quán café của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XIX, nhưng không phổ biến cho đến khi các công ty thức ăn nhanh lớn như McDonald và Burger King đưa chúng kết hợp vào thực đơn của họ trong thời gian giữa thế kỷ XX. Những cải tiến trong công nghệ làm khoai tây đông lạnh được thực hiện bởi J.R.Simplot của Idaho City vào năm 1953, làm cho sản xuất khoai tây chiên mở rộng trên quy mô lớn. Trước khi khoai tây được làm đông, tuy vậy, chúng vẫn bị mất đi một số hương vị trong khi chiên, nhưng một công nghệ mới như sáng chế cải tiến của Simplot đã tránh được sự bất lợi này vào năm 1967, chủ yếu nhờ vào việc sử dụng một hỗn hợp mỡ bò và dầu đậu nành. Điều này cho phép Simplot và người sáng lập McDonald hợp tác, kết quả là những củ khoai tây gọt vỏ sẵn từ trang trại của Simplot sẽ được chuyển trực tiếp đến những căn bếp của McDonald, nơi mà chúng sẽ được chiên và phục vụ cho thực khách. Ban đầu, tuy nhiên, đã có những lo ngại về tính vệ sinh của món khoai tây chiên và nhà bếp, nơi chúng được chế biến, khiến cho một số công ty như White Castle đã phải bỏ chúng ra khỏi thực đơn của mình vào những năm 1950.

Vào cuối thế kỷ XIX, một thế hệ nước uống có gas mới nổi lên, một trong số những thức uống đó sẽ sớm gia nhập vào thị trường bia là thức uống truyền thống được phục vụ cùng với bánh hamburger. Công thức đầu tiên của Coca-Cola được phát minh vào năm 1885 tại Columbus, Georgia bởi tạp hóa John Pemberton. Tên gọi nguyên thủy là rượu coca (coca wine) (tên thương mại là “Pemberton's French Wine Coca”), có thể được lấy cảm hứng từ sự thành công đáng gờm của Vin Mariani, một loại rượu coca của châu Âu. Vào cuối thế kỷ XIX, nó được bán như là thứ nước ngọt đóng chai đầu tiên của Mỹ. Trong những năm đầu thế kỷ XX, một số đồ uống như Pepsi được sáng chế ra bởi dược sĩ Caleb Bradham đã nhanh chóng cạnh tranh doanh số bán hàng với Coca-Cola. Liên minh chiến lược giữa các chuỗi nhà hàng burger lớn và hai công ty nước giải khát khiến tăng lên lượng cung cho công chúng.


THƯƠNG MẠI HÓA

Buổi bình minh của thế kỷ XX chứng kiến sự tăng lên vượt bậc trong việc cung cấp thực phẩm cho những cư dân đô thị với mật độ dân số cao. Thực phẩm cũng phải được điều chỉnh để phù hợp với cả tầng lớp lao động, để họ đảm bảo công việc và cũng đề duy trì nền công nghiệp sản xuất. Burger sinh ra trong thời kì thức ăn cần đảm bảo 2 yeus tốt “nhanh” và “rẻ”. Tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực bảo quản thực phẩm, cũng như là những cải tiến trong sản xuất công nghiệp và vận chuyển, khiến cho bánh hamburger nhanh chóng trở thành sự lựa chọn cho những người dân đô thị vì những sáng tạo đáp ứng của nó. Môi trường kinh tế – xã hội của Mỹ vào thời điểm hamburger trở nên phổ biến cũng là cùng với chiến tranh Thế giới thứ nhất và là khởi đầu của cuộc Đại suy thoái năm 1929. Môi trường này vô cùng thích hợp để thúc đẩy phát triển thực phẩm rẻ tiền, đó là lí do vì sao bánh hamburger 5-cent trở nên rất phổ biến. Sau những phát minh của nó vào thập kỷ đầu của thế kỷ XX, bánh hamburger được bán trên thị trường với quy mô lớn, sau khi những người có tầm “nhìn xa trông rộng” nhận ra rằng nó sẽ đem lại nguồn lợi lớn từ việc sản xuất quy mô.


Bánh hamburger giải quyết những vấn đề về kỹ thuật trong sản xuất hàng loạt thực phẩm đã qua sơ chế.

Dây chuyền sản xuất tự động đầu tiên được sáng tạo bởi Karl Benz ở Đức năm 1888. Sự lan rộng của phát minh ra điện thoại xảy ra vào đầu thế kỷ XX, cùng với những phương tiện liên lạc hiện đại khác, bao gồm cả radio. Với những người Mỹ trung lưu, những người chưa bao giờ ăn ở một nhà hàng trong suốt quãng đời của họ, chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh xuất hiện trong thành phố đem lại một phương thức thay thế của nhà hàng trong đó việc ăn uống trở thành một hoạt động gần như là công cộng. Khái niềm “muỗng dầu mỡ” sinh ra cùng với những nhà hàng này, trong đó sự vệ sinh được đổi lấy với việc ăn những thức ăn rẻ tiền. Mặt khác, sự thông thương giao lưu bằng ô tô, xe buýt và tàu hỏa ngày càng trở nên thuận tiện hơn. Tất cả những điều này có nghĩa rằng các phương tiện vận chuyển được cải tiến triệt để thời gian này, và cùng với đó là việc cung cấp thực phẩm cho cả một quy mô dân số ngày càng tăng do “thường trú quá cảnh”, những người thường xuyên di chuyển qua những thành phố khác nhau để làm làm thương vụ. George Pullman đã phát minh ra xe ngủ và xe ăn uống để đáp ứng những nhu cầu của những người vào năm 1870. Cũng giống như vậy, một người Anh nhập cư tên là Frederick Henry Harvey là người đầu tiên sử dụng “làn sóng đại chúng năng động” trog việc tái thiết lập lại Công ty Fred Harvey, nơi cung cấp cho những khách hàng quen một chuỗi những khách sạn gần nhà ga, cũng như cung cấp phục vụ, dịch vụ, và sản phẩm chất lượng cao trên những chuyến tàu của mình.

Xã hội hiện đại Mỹ cũng chứng kiến sự ra đời của nhiều món thức ăn nhanh có nguồn gốc từ các món ăn truyền thống của các dân tộc từ khắp nơi trên thế giới. Ví dụ, một di dân người Đức Charles Feltman đã phát minh ra hotdog vào năm 1867 tại gian hàng của mình ở Coney Island, New York bằng cách kẹp hotdog với một cái bánh mì. Những người nhập cư như Harry Magley và Charles Stevens cũng sớm bắt đầu bán hotdog ở New York Polo Grounds trong những trận đấu bóng chày. Tương tự như thế, một người nhập cư gốc Ý đã bán kem từ xe bán hàng lưu động trên đường phố hoặc mì pasta ở những nhà hàng. Di dân người Trung Quốc đầu tiên mở nhà hàng để phục vụ cho những người Mỹ gốc Trung như họ, nhưng họ dần dần được các nhà hàng Mỹ, kết quả có thể kể đến cho sự giao hòa Trung – Mỹ là món chop suey. Trong thế giới đa dạng của các món ăn dân tộc này, chiếc bánh hamburger nhanh chóng trở thành một món ăn đặc trưng cho Hoa Kỳ.


Vào ngày 16.11.1916, đầu bếp và cũng là nhà doanh nghiệp Walter “Walt” Anderson đã mở một gian hàng bán bánh hamburger tại Wichita, Kansas sử dụng những dụng cụ nấu ăn hợp vệ sinh như lò nướng và máy phết kem, nó đã gây ấn tượng tốt với người dân Wichita và sau đó rất nhiều người trở thành khách quen tại đây. Vào thời điểm này, người Mỹ vẫn chưa biết đến bánh hamburger nhiều. Anderson đã cho thêm hành tây chiên vào với bánh burger khi chúng đang được nướng, tạo ra một hương vị đặc biệt. Do nhu cầu tăng, khách hàng thường mua hàng chục, hàng tá bánh mì kẹp liền lúc, nên mới có thời kì công ty đưa ra khẩu hiệu “mua hàng lố”. Tuy vậy mặc cho sự phát triển mạnh mẽ, Anderson chỉ cho mở 4 gian hàng ở những khu sầm uất nhất của thành phố. Năm 1926, Edgar Waldo “Billy” Ingram đã hợp tác với Anderson để mở nhà hàng White Castle đầu tiên ở Wichita. Nhaf hàng được xây dựng trên ý tưởng là nơi cung cấp những chiếc bánh hamburger một cách nhanh nhất, vinh dự trở thành nhà hàng thức ăn nhanh đầu tiên.


Nhà hàng White Castle số 8 tại Minneapolis, Minnesota.

Ingram nhanh chóng nhận ra rằng từ “bánh burger” gợi lên trong tâm trí người Mỹ ý tưởng về những thương vụ không rõ ràng tại thị trường chăn nuôi và phần thịt mỡ thường chỉ được ăn bởi những người ở những quận nghèo nhất thành phố. Ông đã cố gắng thay đổi những suy nghĩ này ngay từ những ngày đầu xây dựng White Castle. Đồng thời, ông trở thành Henry Ford của hamburger, khi phát minh ra một khái niệm nhà hàng mà ông gọi là “Hệ thống nhà hàng White Caslte”, đưa bánh hamburger trở nên nổi tiếng. Giữa những năm 1923 và 1931, “Hệ thống White Castle” thành lập gần 100 nhà hàng trong những thành phố trên khắp miền Trung Tây Hoa Kỳ. Để nâng cao nhận thức của những nhân viên làm việc tại White Castle, một bản tin tên “The hot hamburger” được lưu hành toàn công ty, trong đó đưa ra thách thức đối với các nhân viên về cải thiện việc bán bánh burger với một ý tưởng đơn giản: làm thế nào để làm ra một chiếc bánh hamburger nhanh nhất có thể, để bất cứ ai cũng có thể mua và ăn chúng bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu. Thay vì phải chờ đợi hàng giờ tại các nhà hàng truyền thống, các nhà hàng trong hệ thống nhà hàng White Castle cung cấp một dịch vụ nhanh chóng và đơn giản hơn, chỉ chuyên về bánh hamburger. Vào thời điểm đó, bánh hamburger thường được ăn kèm với café. Upton Sinclair của tờ The Jungle đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trong công chúng về sự an toàn của thịt chế biến, vì vậy những năm 1920, công chúng kỳ vọng vào một loại bánh hamburger sạch và vệ sinh hơn. Ngoài việc cung cấp thực phẩm sạch và an toàn, White Castle còn cung cấp một cách thường xuyên và tiêu chuẩn hóa, đảm bảo rằng mỗi suất ăn đều được phục vụ với quy trình giống nhau ở tất cả các nhà hàng. Vào thời điểm đó, đây là một ý tưởng hoàn toàn mới sẽ góp phần vào công cuộc cách mạng hóa việc bán thực phẩm với phong cách của thức ăn nhanh hiện đại. Trong những năm đầu, White Castle luôn nhấn mạnh việc cung cấp café chất lượng, hợp tác với các trường Đại học tổ chức các buổi hội thảo công bố các kết quả nghiên cứu về chất lượng bánh burger của họ.

Thành công của hệ thống nhà hàng White Castle phần lớn bắt nguồn từ công tác tuyên truyền, đó là cả một quá trình cần thiết để thay đổi nhận thức của công chúng về chất lượng của bánh hamburger. Năm 1931, nó trở thành nhà hàng đầu tiên đặt quảng cáo trên báo, sử dụng slogan cũ là “Mua hàng lố”. White Castle cũng đi tiên phong trong việc đưa ra khái niệm dịch vụ, và các nhà hàng tiếp tục được biết đến là nơi đầu tiên bán bánh mì kẹp vuông, được gọi là “lát”, bán với giá 5 cents vào những năm 1940. Trong khi White Castle được thành lập vào tháng 3 năm 1921 ở Wichita, Kansas bởi Billy Ingram và đối tác, đầu bếp Walter Anderson, họ cũng đã cho mở cửa một nhà hàng thứ hai ở thành phố Kansas vào năm 1924. Năm 1932, White Castle tạo ra công ty con đầu tiên của chính mình: Công ty Paperlynen, cung cấp giấy gói thức ăn và thùng chứa, cũng như những chiếc mũ của nhân viên bếp. Nó kết hợp với các công ty về đồ sứ với nhiệm vụ xây một nhà hàng White Castle nhỏ với mặt tiền bằng sứ trắng.

Walter Anderson đã đưa ra một vài ý tưởng cho White Castle trong những năm đầu mới thành lập, bao gồm cả việc tạo ra một loại thìa và bánh mì đặc biệt cho bánh burger. Năm 1949, một nhân viên tên Earl Howell đã tính lượng thời gian làm ra một cái bánh burger truyền thống, thậm chí còn dẫn anh ta đến với ý tưởng tạo ra bánh burger lỗ. Trước thời Anderson, bánh hamburger được làm chín trên một vỉ nướng trong một thời gian không xác định, và những viên thịt băm được “nghiền nát” để kẹp vào lát bánh mì, như kiểu bánh mì sanwich. Thịt bị làm đông và bánh hamburger được làm từ thịt đông lạnh thay vì thịt tươi. White Castle đã cách mạng hóa quá trình chế biến bánh hamburger bằng việc làm lạnh những chiếc bánh đã thành phẩm và sử dụng các máy móc kỹ thuật đảm bảo hợp vệ sinh, được sự chứng kiến của khách hàng.

White Castle đã tạo ra một bước cải tiến rất lớn trong nghệ thuật kinh doanh, và thành công đến nỗi, năm 1926, nó đã có đối thủ cạnh tranh và những kẻ bắt chước trong việc kinh doanh bánh hamburger mới nổi. Một trong những kẻ đi sau cũng có cái tên khá giống là White Tower Hamburgers của Milwaukee, Wisconsin, được thành lập bởi cha con John E. và Thomas E. Saxe. Việc xây dựng nên White Tower đã gây ra những cuộc chiến pháp lý giữa nó với White Castle trong suốt những năm 1930. Đến năm 1930, White Castle đã có 116 nhà hàng trải rộng trên phạm vi 2.300 km (1.400 dặm), tất cả đều được đặt tại Hoa Kỳ. Công ty đã trở thành một chuỗi nhà hàng lớn, tuy nhiên lại chưa mở rộng phạm vi ra ngoài Hoa Kỳ. Việc thiếu thịt bò tại Mỹ trong Thế chiến II đã có ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của White Castle, do tác động của hội nhập theo chiều dọc cùng với sự xuất hiện của hàng loạt những chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh hoạt động trên một mô hình nhượng quyền nhấn mạnh vào việc hội nhập theo chiều ngang.

Năm 1937, Patrick McDonald và hai con trai Richard và Maurice khánh thành nhà hàng “Airdrome” trên Hunting Drive (đường 66) gần sân bay thành phố Monrovia, California, Mỹ. Sự thành công của doanh số bán hàng dẫn đến việc họ mở thêm một nhà hàng tên McDonald trên quốc lộ 66 tại San Bernardino, California vào ngày 15.5.1940. Sau khi phân tích việc bán hàng của mình, họ ngạc nhiên phát hiện ra 80% doanh thu đến từ việc bán bánh hamburger. Thực đơn ban đầu của nhà hàng gồm 25 món, chủ yếu là món nướng. Thông qua hệ thống các nhà hàng của mình, anh em nhà McDonald đã đưa khái niệm thức ăn nhanh đến với đông đảo người dân ở miền Tây nước Mỹ vào năm 1948. Ngay từ đầu, McDonald đã tập trung vào việc làm xúc xích (hotdog) và bánh hamburger một cách nhanh nhất có thể. Trong suốt những năm 1940, tất cả những cách chế biến đơn giản và điển hình nhất đều bắt nguồn từ McDonald, bao gồm cả việc chuẩn bị và phục vụ những chiếc bánh burger chỉ trong vòng 1 phút và khả năng để khách hàng có thể ăn ngay trên đường lái xe. Trong khi đó, các nhà hàng cũng cố gắng để phát triển thị trường bánh hamburger, một loại bán đủ rẻ và trong khả năng của hầu hết người dân. Những năm 1950, mô hình phục vụ theo phong cách lái xe trở nên phổ biến trong nhận thức của mọi người và bánh hamburger và xe hơi đã trở nên gắn bó mật thiết trong tâm trí của nhiều người Mỹ. Giờ đây nó không chỉ giúp khách hàng mua bánh hamburger mà không cần bước ra khỏi xe mà còn không phải chờ đợi lâu la để được phục vụ. Anh em McDonald đã dựa trên thành tựu của nhà hàng ban đầu San Bernardino để xây dựng chuỗi nhà hàng mà bây giờ rất nổi tiếng vào năm 1953, bắt đầu từ Phoenix, Arizona và Downey, California (số này hiện nay vẫn đang hoạt động). Sau đó, Ray Kroc đã mở một nhà hàng ở phía Tây Bắc Chicago, ngoại ô Des Plaines, bang Illinois vào 15.4.1955, bây giờ nó đã được chuyển thành bảo tàng của McDonald. Cũng cần lưu ý rằng, biểu tượng ban đầu của McDonald là một chiếc bánh hamburger được coi là biểu tượng đồ họa mang đậm bản sắc của công ty cho đến khi được thay thế bằng hình ảnh chú hề Ronald McDonald vào năm 1963.


Trong những năm 1960, McDonald quảng cáo sự tiện ích của bánh hamburger là có thể ăn được ở bất cứ nơi nào, và vài thập kỷ sau nó nhanh chóng lan rộng toàn thế giới.

Anh em nhà McDonald cũng nghiên cứu sâu về những giao thức hiện có của nhà bếp để cải thiện chất lượng nhà bếp của mình. Họ đã xem xét những lựa chọn khác nhau để có thể tăng tốc độ chế biến bánh hamburger, thiết kế và được cấp bằng sáng chế đặc biệt cho việc sáng chế ra một khu lò nướng có thể cho sản lượng cao hơn, làm ra những dụng cụ dao kéo và dụng cụ nhà bếp dùng một lần, và giới thiệu loại máy rửa bát giúp giảm lượng nước và xà phòng đổ vào, vào không còn tốn nhiều sức lao động. Hai anh em cũng tạo ra hệ thống chi tiết vận hành tại mỗi nhà bếp của hệ thống nhà hàng một cách tương tự như nhau và phần lớn đã được tiêu chuẩn hóa, đồng thời cũng tuyển dụng thanh niên làm trong khu vực bếp.

Công ty bắt đầu mở rộng với tốc độ nhanh chóng khi người đàn ông 52 tuổi Ray Kroc lên làm giám đốc điều hành. Kroc là người khởi xướng cho sự mở rộng của McDonald trên khắp nước Mỹ và khẳng định chất lượng của bánh burger. Ông không làm việc đó một mình, các đồng nghiệp của ông cũng làm việc rất hiệu quả và sáng tạo. Người điều hành McDonald đồng thời cũng là nhà khoa học về thực phẩm Herb Peterson đã phát minh ra McMuffin vào năm 1972 và cũng là lời chào nổi tiếng cho đến bây giờ “Bạn đặt gì, tôi có thể phục vụ?” (“May I have your order, please?”). Một bước phát triển quan trọng khác, Jim Delligatti của thương hiệu Pittsburgh đã phát minh ra Big Mac vào năm 1968. Sự mở rộng thành công của McDonald chủ yếu là do việc sử dụng hệ thống các nhà hàng cùng thương hiệu, một sự đổi mới bắt chước từ một nhà máy sản xuất máy may, tên “the Singer Corporation”. Singer đã phát triển nó trong một thời gian suốt khoảng cuối thế kỷ 19, và nó rất thành công đến nỗi sớm được công nhận bởi chính những đối thủ cạnh tranh. Ngày nay, McDonald thậm chí còn có trường Đại học riêng để đạo tạo ra những nhân viên của mình: Đại học Hamburger, đặc tại Elk Grove, bang Illinois. Sinh viên tôt nghiệp sẽ nhận được bằng cử nhân “bachelor of hamburgerology with a minor in French fries”. Khi McDonald mở rộng thị trường ra nước ngoài, nó gặp phải nhiều sự phản đối cũng như những khó khăn chung, như trường hợp vào năm 1996 khi mở một nhà hàng ở New Delhi trong bối cạnh bị những nhà quản lý Ấn Độ phản đối kịch liệt. Năm 1995, đất nước có nhiều nhà hàng thương hiệu McDonald nhất (ngoài Hoa Kỳ) là Nhật Bản, sau đó là Canada và Đức, trong khi bản thân công ty có nhà hàng ở hơn 100 quốc gia. Trong suốt lịch sử của mình, công ty đã trở thành một biểu tượng của toàn cầu hóa và văn hóa phương Tây, đô khi dẫn đến việc bị trở thành đối tượng của sự giận dữ và phản đối ở nhiều nơi trên thế giới.

Một phiên bản chay của bánh hamburger

Có rất nhiều những biến thể của bánh hamburger được tạo ra trong những năm qua, một số trong số đó đã trở nên rất phổ biến. Những biến thể đa dạng này là sản phẩm của những nhà hàng cố gắng bắt chước mô hình của McDonald và White Castle. Một ví dụ điển hình của hiện tượng này là Big Boy, lần đầu mở cửa vào năm 1936 bởi Bob Wian ở Glendale, California và được biết đến với cái tên “Cậu trai lớn của Bob” (“Bob’s Big Boy”). Nhà hàng này đem đến biến thể lớn nhất của bánh hamburger, với phô mai đúp, hai lát chả thịt bò, đây cũng là lần đầu tiên biến thể này được chế biến. Sáng tạo của Wian đã trở thành món ăn đặc trưng ở các nhà hàng Big Boy với một lát bánh mì kẹp giữa hai miếng thịt bò. Vào những năm 1960, Big Boy đã mở rộng ra toàn nước Mỹ và Canada. Mặc dù nó đem lại rất nhiều lợi nhuận cho Wian, chuỗi cửa hàng này sớm bán lại bản quyền công thức của mình cho Marriott Corporation vào năm 1967. Một ví dụ trong những trường hợp bắt chước McDonald và White Castle là Kewpee Hamburgers, một chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh được thành lập năm 1923 ở Flint, Michigan bởi Samuel V.Blair, được biết đến như là “Khách sạn Hamburgs Keepee" (“Keepee Hotel Hamburgs”).

Cũng giống như hamburger, việc phát minh ra phô mai có nguồn gốc không rõ ràng. Một số nhà bếp khẳng định mình là người đầu tiên thêm một lát phô mai lên chiếc bánh hamburger. Lionel Sternnberger của Rite Spot ở Pasadena, Califonia đã nhận mình chính là người sáng chế ra phô mai vào khoảng giữa năm 1924 và 1926. Một thực đơn từ năm 1928 của nhà hàng O’Dell Restaurant ở Los Angeles được công bố cũng cho thấy vào thời điểm đó nhà hàng này đã phục vụ món bánh burger với những miếng pho mát. Luis Ballast, chủ sở hữu của quầy Humpty Dumpty trong một nhà hàng ở Denver, Colorado, cũng đã rất cố gắng để tạo ra một loại phô mai với tên thương mại là “yellowburger” vào năm 1935. JC Renolds, người điều hành một quán bar ở miền Nam Califonia từ năm 1932 đến năm 1984, đã đem ra một loại phô mai có vị cay/vị ớt. Pho mát đã qua chế biến, loại pho mát được sử dụng nhiều nhất trong bánh burger, được Walter Gerber ở Thun, Thụy Sĩ phát minh ra vào năm 1911, mặc dù người đầu tiên được cấp bằng sáng chế cho món ăn này là người Mỹ James L.Kraft vào năm 1916. Kraft Foods đã đưa ra phiên bản thương mại đầu tiên của pho mát đã qua chế biến thái lát, lần đầu tiên đưa ra thị trường vào năm 1950.

Sau thế chiến II, một số nhà hàng hamburger được gọi là InstaBurger King (sau là Burger King) bắt đầu nổi tiếng, lần đầu tiên khai trương vào ngày 04.12.1954 ở ngoại ô Miami, Florida. Nhà hàng được thành lập bởi James McLamore và David Edgerton, cả hai đều là sinh viên trường Đại học Cornell chuyên ngành Quản lý khách sạn. McLamore đã đến trụ sở McDonald gốc ở San Bernardino, Califonia từ khi nó vẫn còn được điều hành bởi anh em nhà McDonald, và nhận thấy tiềm năng của việc sản xuất và bán bánh hamburger. Lấy cảm hứng từ chuyến đi, ông đã quyết định tạo ra chuỗi nhà hàng burger tương tự cho chính mình. Năm 1959, Burger King đã có 5 nhà hàng trong thành phố Miami, và thành công này khiến McLamore và David Edgerton nhận ra khả năng mở rộng quy mô trên toàn nước Mỹ bằng một hệ thống nhà hàng với cùng thương hiệu, điều này có thể giúp họ thu lại nguồn lợi lớn với chi phí bỏ ra không nhiều. Họ cho thành lập Burger King Corporation, công ty mẹ của những thương hiệu của họ trên toàn nước Mỹ. Burger King Corporation đã bị công ty Pillsbury mua lại vào năm 1967, và trong suốt những năm 1970, nó tiếp tục mở rộng thị trường ngoài nước, đặc biệt là ở Nam Mỹ và các nước châu Âu. Món ăn đã trở thành thương hiệu của Burger King là Whopper, được sáng chế bởi người sáng lập McLamore và ban đầu bán ra với giá 37 cents.

Wendy được thành lập bởi Dave Thomas và John T. Schuessler vào 15.11.1969 ở Columbus, Ohio. Cuối năm 1970, nó đã trở thành công ty bánh hamburger lớn thứ 3 ở Hoa Kỳ. Wendy luôn tích cực đổi mới chính mình cho khác với những nhà hàng khác bằng cách tuyên bố bánh hamburger của mình làm từ thịt bò tươi, không phải thịt đông lạnh. Wendy đã gây ra một cuộc tranh cãi và đặt ra cho văn hóa thường thức của Hoa Kỳ với một quảng cáo bằng câu hỏi “Thịt bò từ đâu ra?” và đi kèm đó là một chiến dịch quảng bá thương hiệu nhấn mạnh nhất vào tính ưu việt của thịt bò trong bánh hamburger.

HUYỀN THOẠI ẨM THỰC

Bánh hamburger rất nổi tiếng ở Mỹ trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới II, ngay cả trong văn hóa đời thường nhất. Một ví dụ cho điều này là sự xuất hiện của bánh hamburger trong truyện tranh phiêu lưu Thimble Theater của EC Segar, trong đó nổi bật nhất là nhân vật chính thủy thủ Popeye chuyên ăn rau bina để duy trì sức mạnh siêu phàm của mình. Lần đầu tiên Popeye xuất hiện như một nhân vật hỗ trợ vào ngày 17.01.1929 cùng nhiều nhân vật khác. Một trong những nhân vật này là J. Wellingtom Wimpy (thường được gọi ngắn gọn là “Wimpy”), một người rất lịch sự nhưng lại háu ăn và vô vùng yêu thích bánh hamburger. Chữ ký của ông có ghi “Tôi rất vui lòng trả tiền cả ngày mai nếu hôm nay bạn mang cho tôi một chiếc hamburger” (“I’m gladly pay you tomorrow for a hamburger today”), nhanh chóng trở nên nổi tiếng và biết đến rộng rãi. Trong khoảng thời gian nổi tiếng của mình vào những năm 1930, Wimpy giới thiệu đến giới trẻ thời bấy giờ bánh hamburger như là một món ăn có ích cho sức khỏe. Nó thậm chí còn dẫn đến việc hình thành một chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh mang tên Wimpy, bán hamgurger với giá 10 cent. Một hình mẫu tương tự, nhân vật hư cấu Jughead Jones, lần đầu xuất hiện trong truyện tranh Archie vào năm 1941, cũng là một người rất háu ăn mà đặc biệt là món bánh hamburger.


J.Wellington Wimpy (Wimpy), một trong những người bạn của Popeye trong cuốn truyện tranh phiêu lưu vào năm 1931, có niềm ham thích rất lớn đối với bánh hamburger.

Những nhân vật hư cấu có liên quan đến bánh hamburger, như chú hề Ronald McDonald thiết kế bởi Willard Scott xuất hiện lần đầu tiên trên truyền hình năm 1963, nhanh chóng trở thành một phần biểu tượng tượng trưng dễ nhận thấy của văn hóa Mỹ. Bánh burger cũng có những màn xuất hiện trong nội dung truyện tranh như trong Zap Comix#2 ra đời cuối những năm 1960, tác giả truyện tranh là Robert Crumb đã sáng tạo ra một nhân vật có tên là “Hamburger Hi-Jinx”. Vào cuối thập kỷ, hôi họa đương thời chấp nhận hamburger như một yếu tố nghệ thuật, xuất hiện trong những tác phẩm như của Andy Warhol (Dual Hamburger), Claes Oldenburg (Floor Burger), Mel Ramos (Vinaburger, 1965) và gần đây là David LaChapelle (Death by Hamburger, 2002).

Một ví dụ khác cho thấy sự nổi tiếng và tầm ảnh hưởng của bánh hamburger với công chúng Mỹ là cái tên Battle of Hamburger Hill, xảy ra vào tháng 5.1969 khi đang diễn ra chiến tranh Việt Nam. Cái tên của nó được lấy cảm hứng từ con số thương vong của Mỹ và Việt Nam trong cuộc chiến này, khiến khung cảnh giống như một “tên đồ tể”. Bánh hamburger cũng là cảm hứng của người sáng tạo ra Star Wars Geoger Lucas để ông thiết kế ra con thuyền Millennium Falcon. Bánh hamburger cũng xuất hiện trong những trò chơi điện tử, như trường hợp của Burger Time, một trò chơi chiến đấu được sáng tạo ra vào năm 1982 bởi Data East Corporation. Hamburger cũng xuất hiện trong những chương trình truyền hình Mỹ như American Eats và Man v. Food.

Vào những năm 1960, xã hội Mỹ trở nên cơ giới hóa, phần lớn là bởi Đạo Luật Liên Bang (Federal Highway Act) vào năm 1956 và đã được Tổng thống Dwight Eisenhower, cũng như tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc của nền công nghiệp sản xuất ô tô vào thời điểm đó. Cũng bởi nhu cầu sử dụng ô tô vào thời điểm đó, hamburger dần được phục vụ ngay trong xe, bởi những người phục vụ được gọi là carhops. Nhà hàng phục vụ cho lái xe lần đầu xuất hiện ở Mỹ vào đầu những năm 1930, và nhanh chóng trở thành một xu hướng lan rộng trên khắp nước Mỹ. Khả năng phục vụ bánh hamburger cho khách hàng ngay khi họ vẫn ngồi trong xe ô tô của mình được vô số những chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh xem như một cơ hội kinh doanh, đặc biệt là McDonald. Hamburger nhanh chóng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết vào thời điểm này, và thống kê cho thấy trung bình một người Mỹ ăn ba chiếc hamburger một tuần.

Suốt thời kì Chiến tranh Lạnh, bánh hamburger trở thành biểu tượng toàn cầu của Mỹ. Những sự kiện xã hội tổ chức ngoài trời tư nhân, thường được tổ chức ở sân sau và có tiệc barbecue, trở nên phổ biến giữa những năm 1950, chiếc bán hamburger đã đạt đến một vị trí nhất đinh trong ẩm thực và văn hóa nước Mỹ. Cuối thập niên 1960, hamburger bắt đầu thay đổi về quy mô những chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh cạnh tranh nhau, kết quả là Burger King tung ra Whopper và McDonald tung ra Quarter Pounder. Cuộc đua giữa những chuỗi nhà hàng trở nên ngày càng khốc liệt hơn, giá bánh hamburger tăng lên, và những ngày khi mà chiếc bánh hamburger chỉ có giá vài cent chỉ còn là quá khứ.
Thập niên 1970, những chuỗi nhà hàng hamburger bắt đầu sử dụng một nguồn lực đáng kể trong việc tiếp thị sản phẩm của mình. Họ bắt đầu cạnh tranh trực tiếp với nhau thông qua quảng cáo, phần nhiều trong số đó chủ yếu là để so sánh và thường trực tiếp ám chỉ so sánh với đối thủ của mình. Sự kiện này được người Mỹ gọi đùa là “Chiến tranh Hamburger” (burger war). Cuối thập kỷ 1980, thời đại khẩu hiệu của những chuỗi nhà hàng lớn bắt đầu.


HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU

Bánh hamburger hiện đại được phát minh ra ở Hoa Kỳ, nhưng vào cuối Thế chiến II, nó bắt đầu lan sang các nước khác như một sự toàn cầu hóa của thức ăn nhanh. Nguyên nhân chủ yếu của sự toàn cầu hóa này là do các chuỗi nhà hàng. Vì muốn mở rộng quy mô kinh doanh và thu thêm lợi nhuận nên họ đã tạo ra thêm những chuỗi nhà hàng trên khắp thế giới. McDonald là hãng đi đầu trong toàn cầu hóa, mang những chuỗi nhà hàng với thương hiệu của mình đi đến khắp thế giới, nhưng nó không phải là duy nhất. Wimply bắt đầu mở rộng kinh doanh trên khắp nước Mỹ vào năm 1954, 20 năm trước khi McDonald bắt đầu hoạt động trong nước, và đến khoảng năm 1970, nó đã có tới hàng nghìn nhà hàng ở 23 quốc gia. Vào ngày 21.08.1971, ở Zaandam, gần Amsterdam Hà Lan, Ahold mở chuỗi nhà hàng đầu tiên ở châu Âu. Trong những năm 1970, McDonald bắt đầu mở rộng sang thị trường châu Âu và Australia. Ở châu Á, Nhật Bản là nơi đầu tiên có chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh vào năm 1972: MOS Burger ( モスバーガー Mosu bāgā), nghĩa là “Núi, biển và mặt trời”, sau này đã trở thành đối thủ trực tiếp của McDonald. Những sản phẩm của nó phải phù hợp với văn hóa châu Á, bởi vậy mới ra đời teriyaki burger, takumi burger và riceburger. Ở HongKong, Aji Ichiban là chuỗi nhà hàng lớn độc nhất trước khi nó mở rộng ra thị trường toàn châu Á. Một trong những máy bán hàng tự động (bán hamburger tự động) ra đời ở Amsterdam vào năm 1941 dưới thương hiệu: FEBO, tên của nó bắt nguồn từ tên người sáng tạo Ferdinand Bolstraat.


Bánh burger ở Việt Nam cũng là một sản phẩm của sự toàn cầu hóa.

Cùng thời điểm bánh hamburger lan rộng toàn cầu, nó cũng phải có những đặc điểm riêng biệt để thích hợp với những nơi khác nhau.Có thể lấy ví dụ như thịt bò trong hamburger có thể thay thế bằng thịt động vật địa phương như chuột túi ở Úc, hay như món Tex-Mex với vị cay của ớt tiêu.

Việc mở rộng và tiêu chuẩn hóa bánh hamburger đã dẫn đến việc xuất hiện một chỉ số giá tiêu dùng có thể được sử dụng chung giữa các quốc gia được gọi là Big Mac Index. Nó đo lường giá trị (tính theo USD) của một chiếc bánh burger ở những nơi khác nhau trên thế giới, cho phép so sánh sức mua ngang giá của 120 nền kinh tế của các quốc gia có hệ thống nhà hàng của McDonald. Nhà xã hội học người Mỹ George Ritzer đã chỉ ra khái niệm “McDonald hóa” trong cuốn sách McDonaldization of Society của mình vào năm 1995. Một yếu tố khác dẫn đến hiện tượng toàn cầu hóa của bánh hamburger là sự ra đời những cuộc thi nấu ăn giữa những đối thủ từ nhiều quốc gia khác nhau. Một trong những cuộc thi nổi tiếng nhất là Krystal Square Off, được tổ chức bởi hệ thống chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh Krystal và được IFOC tài trợ, tổ chức nhiều năm liền từ năm 2004.


NGÀY NAY

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, bánh hamburger xuất hiện như là trung tâm của những cuốn sách về văn học hoặc ẩm thực. Một ví dụ là cuốn Fast Food Nation: The Dark Side of the All – American Meal ("Mặt trái của những món ăn của người Mỹ"), được xuất bản bởi nhà báo điều tra Eric Schlooser vào năm 2001, chỉ ra rằng tác động địa phương và quốc tế của thức ăn nhanh bắt nguồn từ Mỹ. Một ví dụ về biến thể hiện đại của bánh hamburger là món bánh gourmet burger, được thực hiện bởi những đầu bếp chuyên nghiệp với những nguyên liệu đắt đỏ. Một trong những loại burger đầu tiên được chế biến ở thành phố New York là bởi đầu bếp Daniel Boulud vào tháng 6.2001, và được bán với giá 29$ bao gồm những nguyên liệu thịt thăn, xương sườn Bres, nấm đen đóng hộp và sự kết hợp các loại rau. Một nhà hàng ở Manhattan tên là “Old Homestead”, một trong những nhà hàng lâu năm nhất cả nước, bán một chiếc bánh hamburger với giá 44$ với nguyên liệu chính là món thịt bò Nhật Bản lai wagyū. Một loại bánh hamburger đầy chất bản địa đã được Richard Blais, một học viên của Ferran Adrià sáng tạo và giới thiệu ra vào năm 2004 tại một nhà hàng ở Atlanta, nơi mà nó đã được phục vụ từ trước bởi chuỗi nhà hàng Krystal. Để đáp ứng sự đa dạng của các loại bánh hamburger, những phiên bản khiêm tốn hơn đã ra đời. Alberto Chicote của Madrid đã tự làm bánh hamburger ở nhà mình, sử dụng thịt heo Iberian và nước sốt tự chế cùng mù tạt. Năm 1993, Max Schondor đã sáng chế ra một chiếc bánh hamburger làm từ đậu nành. Trong một tập phim SpongeBob SquarePants, nhân vật chính đã đến thăm nhà hàng Krabby Patty burgers nổi tiếng của Mr.Krab, khiến cho bánh hamburger trở nên nổi bật hơn trong câu chuyện.


Bánh hamburger trong không gian, một sáng tạo của thực phẩm không gian tại Trạm vũ trụ quốc tế (ISS)

Tại Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI, đã có rất nhiều lễ kỷ niệm một trăm năm của bánh hamburger. Có hai địa điểm cụ thể để tổ chức lễ kỷ niệm này. Một được tổ chức tại Athens, Texas vào tháng 11.2006, để tưởng nhớ Fletcher Davis. Trong một nghị quyết của Tiểu bang Texas, người ta đã khẳng định Athens là “Quê hương của bánh hamburger”. Tuy nhiên vào tháng 8.2007, bang Wisconsin đã đưa ra lời tuyên bố chung trên danh nghĩa của thị trấn Seymour, quê hương của Charlie Nagreen, người đã tuyên bố rằng mình là cha đẻ của bánh hamburger. Đây là hai quyết định trên danh dự của hai thành phố Mỹ về nguồn gốc của bánh hamburger. Thị trấn Semour vẫn thường niên tổ chức “Lễ hội Burger” (“Burger Fest”) vào thứ bảy đầu tiên của tháng Tám.


Kể từ đầu thế kỷ XXI, loại bánh kẹp này đã trải qua nhiều tranh cãi về vấn đề chất lượng dinh dưỡng mà nó mang lại. Trong thời đại của sự bùng nổ những lo ngại về thừa cân hoặc chế độ dinh dưỡng hợp lý, sự xuất hiện đặc biệt của loại bánh burger loại lớn (được biết đến với cái tên “XXL hamburgers”) đã tạo ra nhiều tranh cãi. Một ví dụ cho việc này là bánh burger Triple Whooper, vượt ngưỡng calo cho phép bởi Dự án Y tế chống Béo phì (the Health Stratgery Against Obesity), cơ quan này được cấp phép bởi Hiệp hội Thực phẩm và An toàn dinh dưỡng của Tây Ban Nha (AESAN). Mục tiêu hoạt động của AESAN là ngăn chặn tăng trưởng bệnh béo phì ở tất cả mọi người mà chủ yếu là trẻ em. Tổng quát hơn, các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng thực phẩm nhiều calo có thể gây ra quá nhiều cảm giác ngon miệng. Để đối phó với điều này, nhiều chuỗi nhà hàng đã giảm lượng calo trong bánh burger của mình từ đầu những năm thế kỷ XXI. Cuối thế kỷ XX đã chứng kiến vụ kiện của McDonald với hai nhà hoạt động môi trường Helen Steel và David Morris, được gọi một cách dân dụng là McLibel. McDonald đã có những phản ứng ngay sau khi Steel và Morris xuất bản cuốn sách có tựa đề What’s wrong with McDonald: Everything they don’t want you to know (“Chuyện gì với McDonand: Tất cả mọi thứ họ không muốn bạn biết”), mà sau đó đã được phát triển thành một cuốn tài liệu có tên là McLibel.




Năm 2004, Morgan Spurlock đã giải quyết nỗi ám ảnh của một số người Mỹ về việc tiêu thụ bánh hamburger bằng một bộ phim do chính ông làm đạo diễn và diễn viên chính Super Size Me. Trong phim, ông chỉ ăn đồ của McDonald trong suốt một tháng và đã có những ghi chép về những thay đổi về tình trạng sức khỏe của mình. Cùng năm đó cũng xuất hiện bộ phim Harold & Kumar Go to White Castle, bộ phim mà trong đó chuỗi nhà hàng White Castle đóng một vai trò quan trọng. Hai năm sau, vào năm 2006, bộ phim Fast Food Nation đã thể hiện một câu chuyện hư cấu những mưu đồ trong ngành công nghiệp thịt xảy ra trên biên giới giữa Mexico và Mỹ. Nó chủ yếu dựa trên cuốn sách Fast Food Nation của năm 2001: The Dark Side of All-American Meal. Những bộ phim này đều làm nổi bật thực tế rằng chiếc bánh hamburger tiến vào thế kỷ XXI với những thử thách phía trước, khi xã hội quan tâm hơn đến những gì họ ăn và khi bệnh béo phì đang ngày càng phát triển, đi cùng với lượng calo trung bình cao.

Nguồn: Wiki_History of the Hamburger
Người dịch: Tun-chan
Biên tập & Hiệu chỉnh: Tun-chan
Website: http://vnsharing.net/g/AmThuc
Facebook: https://www.facebook.com/AmThucVns
Vui lòng ghi rõ link nguồn khi copy bài viết.
mynvijap
mynvijap

Total posts : 75

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum