[Wiki] History of the Hamburger (phần 1)

Go down

[Wiki] History of the Hamburger (phần 1) Empty [Wiki] History of the Hamburger (phần 1)

Post by mynvijap on Sat Nov 08, 2014 1:07 pm

HISTORY OF THE HAMBURGER


Bánh hamburger có nhiều khả năng là xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỉ 19 hoặc đầu thế kỷ 20. Bánh hamburger hiện đại là sản phẩm của nhu cầu ẩm thực của một xã hội đã được thay đổi nhanh chóng do công nghiệp hóa, và bởi vậy, người ta có ít thời gian để chuẩn bị cũng như dành thời gian để ăn những bữa ăn một cách tử tế.

Người Mỹ cho rằng họ là những người đầu tiên kết hợp hai miếng bánh mì kẹp với một lát thịt bò thành một “bánh sandwich hamburger”. Một phần của những tranh cãi về nguồn gốc của chiếc bánh hamburger là bởi hai lí do cơ bản, bánh mì và thịt bò, đã được chuẩn bị và dùng trong bữa ăn một cách riêng biệt rất nhiều năm trước khi chúng được kết hợp với nhau. Một thời gian ngắn sau khi ra đời, bánh hamburger được chế biến ra với tất cả những thức phụ gia điển hình như bây giờ, gồm có hành tây, rau diếp và dưa muối chua thái lát.

Trong thế kỷ XX, đã có rất nhiều những cuộc tranh cãi khác nhau, trong đó có cả những tranh cãi về dinh dưỡng trong cuối những năm 1990. Bánh burger được xác nhận là có nguồn gốc từ Mỹ, và là một phong cách đặc biệt của ẩm thực, gọi là đồ ăn nhanh. Cùng với gà rán và bánh táo, bánh hamburger đã trở thành một biểu tượng ẩm thực tại Hoa Kỳ.
Sự phổ biến toàn cầu của bánh hamburger đã thể hiện sự phát triển của lan rộng toàn cầu của các món ăn từ nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm có Doner Kebab của Thổ Nhĩ Kỳ, bánh pizza của Ý và sushi của Nhật Bản. Bánh hamburger đã lan truyền từ lục địa này sang lục địa khác có lẽ, một phần là vì, nó rất dễ được chấp nhận ngay cả trong những nền văn hóa ẩm thực khác nhau. Nét văn hóa ẩm thực toàn cầu này đã được đem ra sản xuất, một phần, bởi vì sự hiểu biết về thực phẩm đã qua chế biến. Ý tưởng này lần đầu tiên được đưa ra bởi hệ thống chuỗi nhà hàng White Castle, và được McDonald cải tiến lại vào những năm 1940. Sự lan rộng toàn cầu này đã đem lại những số liệu so sánh kinh tế như Big Mac Index, cho phép sự so sánh sức mua ở những quốc gia khác nhau nơi Big Mac bán bánh hamburger.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Trước khi xảy ra những tranh chấp về việc sáng chế ra bánh hamburger ở Mỹ, có nhiều món ăn tương tự đã tồn tại trong ẩm thực truyền thống châu Âu. Vào thế kỷ XII, người du mục Mông Cổ đã luôn mang theo những thức ăn được tạo thành từ nhiều loại sữa (kumis) và thịt (ngựa hoặc lạc đà) trong những cuộc hành trình của họ. Suốt cuộc đời của nhà lãnh đạo của họ Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn, 1167 – 1227), quân đội Mông Cổ đã chiếm lĩnh một phần phía Tây của những quốc gia hiện đại như Nga, Ukraina và Kazakhstan, hình thành cái gọi là Golden Horde. Kỵ binh thường phải di chuyển rất nhanh và họ không có thời gian để dừng lại dùng bữa, họ buộc phải ăn trong khi đang lái xe. Họ sẽ đặt một vài miếng thịt được thái lát mỏng dưới yên ngựa và như thế nó sẽ được làm mềm trong khi con ngựa chạy liên tục và sẽ chín luôn từ sức nóng tỏa ra từ con vật. Cách làm thịt băm nhỏ này lan rộng khắp đế quốc Mông Cổ cho đến tận khi nó bị chia cắt trong những năm 1240. Khi đế quốc Mông Cổ còn tồn tại, quân đội Mông Cổ biết rõ những nhóm động vật khác nhau (như đàn hoặc bầy ngựa, cừu hoặc bò) đã cung cấp những vitamin cần thiết cho chế độ ăn của các chiến binh. Marco Polo cũng đã ghi lại mô tả về những thói quen ẩm thực của các chiến binh Mông Cổ, chỉ ra rằng thịt một con ngựa có thể cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho 100 chiến binh.

Khi người cháu của Genghis Khan là Kublai Khan (Hốt Tất Liệt, 1215 – 1294) đánh chiếm Moscow, ông và những chiến binh của ông đã mang món thịt ngựa băm nhỏ này đến với người Moskva, mà sau này món đó được gọi là thịt bò tartare. Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1938 mới xuất hiện nhà hàng đầu tiên có công thức làm món thịt bò tartare này. Chẳng những không có một cái tên rõ ràng, món thịt bò tartare cũng chỉ được miêu tả lần đầu tiên bởi nhà văn Jules Verne vào năm 1875 trong cuốn tiểu thuyết Michael Strogoff của ông. Có những điểm tương đồng nhất định giữa món thịt bò tartare và những món ăn của Đức Labskaus và Mett. Những tài liệu tương tự khác, món thịt băm nhỏ giống như thế cũng xuất hiện vào thế kỷ XX, như món carpaccio của Ý được sáng chế vào năm 1930 tại Bar Harry ở Venice. Cũng như vậy, một trong những văn bản cổ nhất đã đề cập đến món xúc xích Hamburg xuất hiện vào năm 1763 trong cuốn sách dạy nấu ăn tựa đề là “Nghệ thuật nấu ăn, đơn giản và dễ dàng” (“Art of Cookery, Made plain and Easy”) của tác giả Hannah Glasses (1708 – 1770). Hamburg xúc xích được làm từ thịt băm và nhiều loại gia vị khác, bao gồm cả hạt nhục đậu khấu, đinh hương, tiêu đen, tỏi, muối và thường được ăn kèm với bánh mì nướng. Một loạt các món ăn truyền thống châu Âu cũng có thịt băm nhỏ, chẳng hạn như bánh mì thịt, món pljeskavica của người Serbi, món kofta của Arab, và cả món thịt viên nữa.

Ba viên thịt bò Đức Frikadelle (Bulette, Fleischklops).
Trong khi thịt bò được sử dụng rộng rãi ở các nền văn hóa khác nhau ở châu Âu và Trung Á, một thành phần quan trọng khác, bánh mì của hamburger lại có một lịch sử khác. Trong số rất nhiều công dụng của nó, bánh mì thường được ăn với những thức ăn khác, nhưng mãi cho đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện những ghi chép về bánh sanwich. Mặc dù có nhiều phiên bản về sự phát minh ra bánh mì sanwich bởi nhiều nền văn hóa khác nhau, bánh mì sanwich mới được đặt tên vào khoảng năm 1765 để vinh danh các nhà quý tộc Anh, bá tước Sanwich thứ 4, người thích rất thích ăn bánh mì sanwich để như thế ông có thể chơi bài mà không bị bẩn tay. Tuy nhiên, phải đến khoảng năm 1840, khi Elizabeth Leslie Cook nhắc đến công thức của bánh sanwich trong một cuốn sách dạy nấu ăn của mình rằng nó đã xuất hiện ở nhiều vùng của Hoa Kỳ. Bánh mì đã luôn là một phần trong sự phát triển của nhiều loại thức ăn, trong đó có các loại nước chấm, như được mô tả bởi Marie-Antoine Carême trong bản tóm tắt của ông mang tên “L'art de la cuisine française au XIXe siècle”.

Thịt băm là một món ăn hiếm có trong ẩm thực trung cổ, và chính nó cũng chỉ được giới hạn trong giới quý tộc. Rất ít khi nào thịt băm được phục vụ trong những hàng thịt thời trung cổ hoặc là được ghi lại trong những sách dạy nấu ăn vào thời điểm đó, có lẽ bởi vì nó không phải là một phần cần thiết trong quá trình làm xúc xích để bảo quản thịt. Những con tàu Nga đã mang công thức nấu ăn bằng thịt bò đến với cảng Hamburg vào thế kỷ thứ XVII, thời điểm mà người Nga tràn vào đây hay còn được gọi là “cảng của người Nga”. Các giao dịch thương mại của Liên minh Hanseatic diễn ra từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII khiến đây trở thành một trong những cảng lớn nhất ở châu Âu. Giá trị thương mại của nó còn được nâng cao hơn nữa khi nó trở nên quan trọng với những chuyến tàu hơi xuyên Đại Tây Dương đầu tiên. Trong suốt thời kỳ thuộc địa hóa châu Âu của Mỹ, một làn sóng người nhập cư tại cảng này đã trở thành “cầu nối” giữa những công thức nấu ăn truyền thống của châu Âu và sự phát triển trong tương lai của bánh hamburger tại Mỹ.

Cảng Hamburg trong những năm 1890

Trong nửa đầu thế kỷ XIV, Hamburg tự biến mình thành một trong những cảng xuyên Đại Tây Dương lớn nhất châu Âu khi giao thương vận chuyển cả hàng hóa và hành khách. Hầu hết những người di dân Bắc Âu tìm đến thế giới mới bắt đầu hành trình của mình từ cảng này. Do vậy, công ty vận tải biển của Đức Hamburg America Line hay còn được gọi là Hamburg Amerikanische Paketfahrt Actien-Gesellschaft (HAPAG), đã tham gia vào vận chuyển hàng hóa và hành khách khắp Đại Tây Dương trong gần một thế kỷ. Công ty bắt đầu hoạt động vào năm 1847 và đã thuê rất nhiều người nhập cư Đức vào làm việc, rất nhiều trong số họ là những người bỏ trốn trong cuộc cách mạng tháng 9 – 1848. Đa số người định cư và di cư từ nhiều nơi của miền Bắc Âu bắt đầu cuộc hành trình đến Mỹ chính từ cảng Hamburg, mang phong tục ẩm thực của họ đến với nước chủ nhà. Thành phố New York là điểm đến phổ biến nhất cho những con tàu xuất phát từ cảng Hamburg, và rất nhiều nhà hàng trong thành phố bắt đầu phục vụ món thịt bò theo phong cách Hamburg để thu hút những thủy thủ người Đức. Thịt bò thường xuyên xuất hiện trong thực đơn như là món thịt phile Mỹ phong cách Hamburg hay còn gọi là “beefsteak à Hambourgeoise”. Việc này khiến cho sự chuẩn bị món thịt bò băm của người Mỹ này khiến cho những người nhập cư từ châu Âu nhớ về cảng Hamburg và cái thế giới mà họ đã bỏ lại đằng sau.

Vào cuối thế kỷ XIX, bít tết Hamburg, được coi là tiền thân của bánh hamburger, đã trở nên rất phổ biến trong thực đơn của những nhà hàng ở cảng New York. Đây là món thịt bò băm bằng tay, nêm chút muối và thường được hun khói, thường được phục vụ trên đĩa kèm với hành tây và những mẩu nhỏ bánh mì. Đây có thể chính là do những người nhập cư châu Âu đã mang phong tục của mình đến với một thế giới mới và, cụ thể hơn, chính là những thị trấn và thành phố – nơi cư trú mới của họ. Những tài liệu cổ xưa nhất đề cập đến bít tết Hamburg là một món trong thực đơn của một nhà hàng của Delmonico từ năm 1873, nơi họ phục vụ món bít tết Hamburg với giá 11 cent một đĩa được chế biến bởi đầu bếp người Mỹ Charles Ranhofer (1836 – 1899). Giá này có thể là khá cao so với thời điểm đó, và nó gấp đôi giá của một lát thịt bò bít tết đơn giản. Tuy thế, bít tết Hamburg vẫn được ưa chuộng bởi cách chế biến đơn giản cũng như là sự giảm xuống về giá cả vào cuối thế kỷ này. Sự tăng lên về mức độ phổ biến khiến việc đưa nó vào trong những cuốn sách nấu ăn ngày nay là một điều hiển nhiên dễ hiểu, đề cập đến những chi tiết nhất của món bít tết Hamburg. Có những tài liệu chỉ ra rằng, cách chế biến này đã được làm với thịt từ năm 1887 ở một vài nhà hàng của Mỹ, và cũng được sử dụng để cho những bệnh nhân trong bệnh viện ăn cho dễ dàng. Những tài liệu này còn chỉ ra rằng món thịt bò Hamburg được phục vụ sống hoặc luộc, ăn kèm với một quả trứng nguyên.

Thực đơn của nhiều nhà hàng Mỹ trong suốt thế kỷ thứ XIX phục vụ món bít tết thịt bò Hamburg như một món ăn sáng. Một biến thể của bít tết Hamburg là bít tết Salisbury nổi tiếng, món này được phục vụ kèm nước sốt. Được sáng chế ra bởi Dr. James Salisbury (1823 – 1905), loại bít tết Salisbury này được dùng ở khắp nước Mỹ kể từ năm 1897. Ngày nay, ở thành phố Hamburg cũng như là những vùng miền bắc nước Đức, món ăn này được gọi là Frikadelle, Frikandelle, hay Bulette, cũng giống như thịt viên. Cho dù như thế, Hamburger đã trở thành một tính từ để gợi nhắc đến thành phố Hamburg. Món bít tết Hamburg được thay thế bằng tên gọi bánh hamburger vào năm 1930, rồi dần dần được thay thế bằng những tên đơn giản hơn như bánh burger. Thuật ngữ sau này được sử dụng như một hậu tố để tạo ra những từ mới cho các biến thể khác nhau của chiếc bánh hamburger, bao gồm phô mai, porkburger, baconburger và mooseburger. Cũng có những loại thực phẩm khác có tên bắt nguồn từ tiếng Đức nhưng được rút gọn theo những cách khác nhau trong tiếng Anh – Mỹ. Ví dụ như từ Frankfurter, thường chỉ được gọi một cách ngắn gọn là frank.
mynvijap
mynvijap

Total posts : 75

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum