[Music Artist Wiki] Jesse McCartney

Go down

[Music Artist Wiki] Jesse McCartney Empty [Music Artist Wiki] Jesse McCartney

Post by Scheherazade on Thu Nov 13, 2014 11:59 am




๑۩۞۩๑|| Jesse McCartney ||๑۩۞۩๑





Jesse McCartney

Jesse McCartney sau buổi diễn tại "Live! With Regis and Kelly", ngày 7 tháng 4, năm 2009
Thông tin sơ lược
Ngày sinhNgày 9 tháng 4 năm 1987 (hiện 26 tuổi), quê tại Ardsley, New York, Mỹ.
Thể loại nhạcPop, R&B, Pop Rock
Nghề nhiệpCa sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, diễn viên lồng tiếng.
Thời gian
hoạt động
Từ năm 1998 đến nay.
Công ty đại diệnHollywood Records
Hợp tácDream Street, Tricky Stewart, The-Dream, Demi Lovato.
Trang webjessemac.com


 




J
esse McCartney (sinh ngày 9 tháng 4, 1987) là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ, diễn viên đồng thời còn là diễn viên lồng tiếng. McCartney trở nên nổi tiếng vào cuối những năm 1990 khi vào vai JR Chandler của bộ phim truyền hình ban ngày All my Children. Anh sau đó đã tham gia vào một ban nhạc nam tên là Dream Street, và sau cùng tiến ra sự nghiệp âm nhạc solo. Ngoài ra, McCartney còn xuất hiện trên các chương trình như Summerland và Greek. McCartney cũng được biết đến với vai trò là người lồng tiếng cho nhân vật Theodore trong bộ phim Alvin and the Chipmunks và các phần tiếp theo của nó; cũng như việc lồng tiếng Robin/Nightwing trong Young Justice, Roxas và Ventus trong loạt game Kingdom Hearts do hãng Square Enix phát triển.











I. Tiểu sử



McCartney sinh ra vào ngày 9 tháng 4 tại Westchester, New York, anh là con trai của Ginger và Scott McCartney. Ở tuổi 7, anh bắt đầu biểu diễn trong vở nhạc kịch địa phương, trước khi tham gia vào tour lưu diễn quốc gia của “The King and I” với ngôi sao Ricky Ullman của “Phil of the Future”, ở tuổi lên mười. Tại đây, anh đã vào vai nhân vật Louis. Năm 1998, McCartney hát cùng với nhóm nhạc Sugar Daddy Beats và có thể nghe thấy ở những CD của họ từ năm 1998 đến 2000.



II. Sự nghiệp âm nhạc



1. 1999–2002: Dream Street



Năm 1999, McCartney tham gia nhóm nhạc nam người Mỹ Dream Street và là thành viên đến năm 2002. Anh đã mô tả rằng những kinh nghiệm vào lúc ấy như "bàn đạp" cho sự nghiệp solo sau này của mình. Nhóm nhạc này đã giành được danh hiệu đĩa vàng với CD đầu tay của họ, nhưng không lâu sau thì họ tan rã. Năm 15 tuổi, anh bắt đầu tiến hành sự nghiệp solo của mình với một ban nhạc địa phương, gồm những nhạc công: Dillon Kondor (chơi trống), Peter Chema (bass), Katie Spencer (các loại đàn phím), Alex Russeku (chơi trống), Karina LaGravinese (hát bè), Sharisse Francisco (hát bè) dưới sự quản lý của Ginger McCartney và Sherry Goffin Kondor, những người đồng sản xuất album đầu của anh, Beautiful Soul.

McCartney phát hành EP đầu tiên vào tháng 7 năm 2003. Album này gồm ba bài hát “Beautiful Soul”, “Don’t You”, và “Why Don’t You Kiss Her”. Năm 2004, anh biểu diễn bản song ca với Anne Hathaway, “Don’t Go Breaking My Heart”, là bài hát nằm trong nhạc phim Ella Enchanted.





2. 2004–2006: Beautiful Soul và Right Where You Want Me



[Music Artist Wiki] Jesse McCartney 170px-McCartneyPic2_zps07380288

(McCartney tại buổi biểu diễn Bryant Park, ngày 24 tháng 6 năm 2005)


Album solo đầu tay của McCartney, Beautiful Soul, sau hai năm để hoàn thiện, đã được phát hành vào ngày 28 Tháng 9 năm 2004 tại Hoa Kỳ, và hơn một năm sau đó là ở Châu Âu. Anh đánh giá phân loại nó như một kỉ lục nhạc pop với độ xoắn thành thị. Album này bao gồm 4 bài hát do chính Jesse McCartney sáng tác. “Beautiful Soul” đã nhanh chóng vươn tới vị trí 15 trên bảng xếp hạng Billboard 200. Sau đó, album này đạt được hạng đĩa bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm của Mỹ, đã có trên một triệu đơn hàng ở các nhà bán lẻ tại Mỹ; đồng thời đó cũng là album được nhận giải cao nhất của anh đầu năm 2009. Tính đến giữa năm 2006, album này đã bán được hơn 1,5 triệu bản. Đĩa đơn chính cùng tên cũng đạt mức hạng 16 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. McCartney còn là một trong những nghệ sĩ giành được khá nhiều giải thưởng tại 2005 Teen Choice Awards, bao gồm Choice Crossover Artist, Choice Male Artist và Choice Breakout, Male. Một năm sau, anh nhận giải nam ca sĩ được yêu thích nhất tại Nickelodeon Kids' Choice Awards.



Tour lưu diễn đầu tiên quảng cáo rầm rộ của anh cũng có tên Beautiful Soul, nó được bắt đầu vào ngày 2 tháng 5 năm 2005, tại Crest Theatre, Sacramento, California. Phần lưu diễn tại Mỹ được mở rộng đến 56 địa điểm, và kết thúc vào ngày 10 tháng 10 tại Madera District County Fair, Madera, California. Mùa thu năm 2005, McCartney đi lưu diễn ở Úc; và cũng mùa hè năm ấy, anh mở màn cho buổi biểu diễn của Backstreet Boys ở Châu Âu. Ngày 9 tháng 7, buổi trình diễn của anh tại Paramount's Great America, Santa Clara, California đã được ghi lại, và phát hành dưới dạng đĩa CD với tựa "Live: The Beautiful Soul Tour" vào tháng 11 năm 2005".



Sau khi quá trình quay bộ phim Keith hoàn tất, McCartney bắt đầu bắt tay vào album thứ hai của mình, “Right Where You Want Me”, bài hát đồng sáng tác và nổi bật trong album. Nó đánh dấu một sự trưởng thành hơn của về trình độ âm nhạc cũng như bản thân anh kể từ khi album đầu tay của anh được thu ở tuổi 15.



Album Right Where You Want Me được phát hành bởi hãng Hollywood Records vào ngày 19 tháng 9 năm 2006, và đạt vị trí thứ 14 trên bảng xếp hạng Billboard 200. Đĩa đơn chính của album, "Right Where You Want Me", được phát sóng trên radio vào ngày 11 tháng 7 năm 2006. Mặc dù anh không phát động một tour diễn đầy đủ, nhưng anh đã biểu diễn nhiều buổi diễn khác nhau tại Ý và Mỹ.





3. Mối quan hệ với Disney



Anh đã có nhiều đóng góp vào những bản nhạc phim Disney bao gồm: Disneymania 2, Radio Disney Jingle Jams, A Cinderella Story, That's So Raven, Stuck in the Suburbs, Lizzie McGuire Total Party!, Disneymania 3, Sydney White, Radio Disney Jams, Vol. 7, Radio Disney Jams, Vol. 8, DisneyMania 4, Hannah Montana, Radio Disney: Party Jams, That's So Raven Too!, Radio Disney Jams, Vol. 9, Radio Disney Jams, Vol. 11, và The Princess Diaries 2: Royal Engagement.



McCartney cũng thường xuất hiện trên Disney Channel với các bộ phim sitcom dành cho tuổi teen như “The Suite Life of Zack & Cody” và “Hannah Montana”. Anh còn là người lồng tiếng cho Terence trong phim Tinker Bell.





4. 2007–2009: Sự nghiệp sáng tác và album Departure





Mùa thu năm 2007, McCartney đồng sáng tác ca khúc đình đám "Bleeding Love" cùng với Ryan Tedder của OneRepublic. Bài hát đã được đề cử giải Ghi âm của năm tại Lễ trao giải Grammy năm 2009. McCartney còn thu âm lại phiên bản dành cho riêng mình, và được phát hành trên một số ấn bản từ album Departure của anh.



[Music Artist Wiki] Jesse McCartney 220px-Jesse_McCartney_Paparazzo_Photography_Feb_15_2009_zps56cbeb57

(McCartney biểu diễn ở Metairie, Louisiana vào ngày 15 tháng hai năm 2009)


McCartney phát hành album thứ ba của mình vào ngày 20 tháng 5 năm 2008 tại Mỹ và Canada. Có thể nói, đây là một sự thay đổi so với trước đó, thể hiện một Jesse McCartney trưởng thành hơn. Album này đã xếp thứ 14 trên bảng xếp hạng Billboard 200.



Đĩa đơn chính của album, “Leavin'”, được phát hành tháng 3 năm 2008, và cán mốc thứ 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đó cũng là xếp hạng cao nhất của McCartney cho đến nay. Đồng thời đĩa đơn này còn nhận được chứng nhận giải bạch kim của RIAA, bán được hơn hai triệu qua lượt tải trên iTunes, và trở thành đĩa đơn được chứng nhận cao nhất của McCartney đầu năm 2009. Đĩa đơn thứ hai mang tên “It’s Over”, được phát hành ngày 26 tháng 8 năm 2008, và đạt vị trí 62 trên Hot 100. McCartney còn tiến hành tổ chức một tour diễn đồng quảng bá cùng với Jordin Sparks, bắt đầu vào tháng 8 năm 2008 và kết thúc vào tháng 9 cùng năm. Anh cũng làm những buổi diễn solo tại các nhà hát và những địa điểm nhỏ để tạo sự ủng hộ album trong khi lưu diễn với Sparks.



Ngày 7 tháng 4 năm 2009, McCartney cho phát hành lại album "Departure”. Trong lần tái bản này, album "Departure: Recharged" có thêm 4 bài hát mới là: "Body Language", "Oxygen", "Crash & Burn", và "In My Veins". Album này còn có một bản remix của bài "How Do You Sleep?" được hợp tác với rapper/diễn viên Ludacris. Đĩa đơn thứ ba được trích từ phiên bản phát hành lại này, và cũng chính là bản remix "How Do You Sleep?" đề cập trước đó. Nó gặt hái được nhiều thành công hơn đĩa đơn thứ hai, đạt vị trí 26 trên Hot 100. Đĩa đơn thứ tư và cũng là cuối cùng trong album được phát hành là một phiên bản mới của bài "Body Language" với sự góp mặt của T-Pain. Đĩa đơn này thì đạt vị trí thứ 35 trên Hot 100.



5. 2010-nay: Album mới



Đĩa đơn đầu tiên từ album thứ tư của anh Have It All, "Shake", được gửi đến đài phát thanh vào ngày 8 tháng 9 năm 2010 và được phát hành dưới dạng kỹ thuật số ngày 21 tháng 9. Bài hát này đã đạt vị trí thứ 54 trên Hot 100. Ngày 18 tháng 10 năm 2010, có thông báo album “Have It All” sẽ được phát hành vào tháng Giêng năm sau. Nhưng ngay ngày 30 tháng 11, đã có thông báo lại về việc phát hành album sẽ được đẩy lên ngày 28 tháng 12 năm 2010, tức thứ ba sau Giáng Sinh. Không lâu sau, ngày 3 tháng 12, McCartney công bố thông qua trang Facebook của anh rằng album này sẽ phải hoãn lại ngày phát hành, thay vào đó là như dự tính ban đầu: đầu năm 2011. Ngày 7 tháng 4 năm 2011, McCartney đã trả lời cho một câu hỏi trên trang Twitter của mình về sự chậm trễ của album, anh nói rằng: "Tất cả việc phát hành album của tôi đã bị tạm ngưng cho đến khi chúng tôi được nghe về kết quả của Locke & Key", đó là bộ phim truyền hình mà trong đó anh đóng vai chính. Tiếp đó, ngày 6 tháng 5 năm 2012, mẹ của McCartney cho biết trên Twitter rằng sẽ có sự thay đổi trong vị trí Chủ tịch của hãng thu âm, Hollywood Records vào tháng Giêng, năm 2012 sẽ lại trì hoãn việc phát hành album của anh. Tháng 3 năm 2013, trên bìa của của tạp chí Glamouholic đăng thông tin anh về cuộc phỏng vấn độc quyền vừa được tiến hành, ở đây anh khẳng định việc phát hành album phòng thu thứ tư theo như dự kiến ​​của mình, sau những vụ giải tán của các hãng thu âm trong năm nay.



Vào ngày 13 tháng 5, thông tin chính thức được xác nhận trên On Air với Ryan Seacrest rằng Jesse McCartney sẽ được tham gia Backstreet Boys & DJ Pauly D trong chuyến lưu diễn mới của họ "In A World Like This" khởi động ngày 2 tháng 8 năm 2013.



[Music Artist Wiki] Jesse McCartney 191826032_zpsd4d881cf



Bìa Album Have It All


III. Những công việc – liên doanh khác



1. Sự nghiệp diễn xuất



McCartney xuất hiện cùng Roger Daltrey của bộ phim The Who trong sự kiện A Christmas Carol. Từ năm 1998 đến năm 2001, McCartney vào vai Adam Chandler, Jr. trong chương trình truyền hình All My Children của ABC, đây là vai diễn mà anh đã nhận được hai giải thưởng Young Artist Awards và hai đề cử giải Daytime Emmy. Sau đó anh cũng đóng trong series phim ngắn Summerland, vào vai thiếu niên mồ côi Bradin Westerly, và bộ phim này được trình chiếu trên mạng lưới The WB với 2 phần.



Năm 2005, McCartney xuất hiện trên kênh Disney Channell với chính vai là bản thân anh trong một tập của series phim The Suite Life Of Zack And Cody. Năm 2007, anh cũng góp mặt với vai diễn tương tự trong phim Hannah Montana. Anh còn lồng tiếng cho nhân vật Theodore trong phim Alvin and the Chipmunks (các phần của năm 2007, 2009, 2011). Và năm 2008, là nhân vật Terence trong phim Tinker Bell. Ngoài ra, anh còn lồng tiếng cho Robin trong loạt phim Young Justice.



Năm 2008, McCartney đóng vai chính cùng Elisabeth Harnois trong một bộ phim tuổi teen, Keith, mà đạo diễn là Todd Kessler. Đây là bộ phim ra mắt đầu tiên của anh. Và ngày 19 tháng 9 cùng năm, Keith được khởi chiếu.



Theo tờ Entertainment Weekly, tháng 12 năm 2008, McCartney được thương lượng để vào vai Hoàng tử Zuko của Hỏa Quốc trong bộ phim chuyển thể từ hoạt hình "Avatar: The Last Airbender" của đạo diễn M. Night Shyamalan. Tháng 2 năm 2009, diễn viên người Anh Dev Patel thay thế cho McCartney, vì anh có tour lưu diễn trùng với lịch tập huấn võ thuật cho dàn diễn viên theo dự kiến. McCartney bày tỏ sự hứng thú với việc chỉ đạo, sản xuất phim và thậm chí còn có ý định đăng kí vào một trường điện ảnh.



Anh còn xuất hiện như một nhân vật hằng kì trên loạt phim truyền hình Greek, kênh ABC Family, cho vài tập, trong vai diễn một ngôi sao bóng đá tài năng tham gia Kappa Tau. Nhân vật của anh đã đưa ra quyết định phá vỡ tình huynh đệ khi phải chịu áp lực giữa bóng đá và cuộc sống trong Greek kết hợp với việc Rusty dụ dỗ bạn gái Jordan của mình.



McCartney còn hợp tác làm việc trong nhiều phiên bản của loạt game Kingdom Hearts của hãng Square Enix. Anh xuất hiện trong vai Roxas của Kingdom Hearts II năm 2006, và diễn lại vai đó năm 2009 trong phần Kingdom Hearts 358/2 Days. Anh cũng tham gia lồng tiếng cho Ventus, một nhân vật trong video game cùng loại: Kingdom Hearts Birth by Sleep. Và anh diễn cả hai vai trò trong Kingdom Hearts 3D: Dream Drop Distance, phát hành năm 2012.



Tháng 2 năm 2011, thông qua Twitter và trên trang web Perezhilton.com, McCartney xác nhận rằng anh sẽ nhận một vai diễn chính trong dự án phim truyền hình mới của Fox: "Locke and Key". Tuy nhiên, vào tháng 5 năm 2011, Fox tuyên bố sẽ không phát hành loạt phim này.



McCartney đóng vai chính trong bộ phim kinh dị Chernobyl Diaries, được phát hành vào ngày 25 tháng 5 năm 2012. Anh cũng góp mặt trong dàn diễn viên tham gia vào Mùa 7 (2013) của loạt phim Army Wives chiếu trên kênh Lifetime Network.



2. Nước hoa



[Music Artist Wiki] Jesse McCartney Jesse-McCartney-Wanted_zps53bdf031


Tháng 6 năm 2011, McCartney giới thiệu một loại nước hoa mới dành cho phụ nữ, với tên gọi là Wanted By Jesse.



3. Hoạt động từ thiện



Năm 2005, McCartney tham gia vào “Come Together Now”, một ca khúc từ thiện quyên tiền ủng hộ những nạn nhân của cơn sóng thần Tsunami ở Châu Á năm 2004 và cơn bão Katrina năm 2005.



Cuối năm 2005, anh đăng kí làm người ủng hộ chính thức của Little Kids Rock (LKR), đây là tổ chức phi lợi nhuận chuyên cung cấp nhạc cụ miễn phí và hướng dẫn cho trẻ em tại các trường công ở khắp nước Mỹ. Anh còn là thành viên nằm trong Ban Giám đốc Danh dự của LKR.



Số tiền thu được từ chuyến lưu diễn năm 2005 McCartney đã ủng hộ để cứu trợ những hậu quả to lớn mà thiên tai gây ra, bên cạnh đó anh còn thực hiện thu âm những bản radio tuyên truyền chiến dịch "Kids For A Drug-Free America". Anh cũng là phát ngôn viên của Bệnh viện Nghiên Cứu Nhi Khoa St. Jude, và tham gia SPACE, một tổ chức từ thiện đồng sáng lập bởi một người bạn thời thơ ấu của mẹ anh. McCartney còn biểu diễn tại buổi hòa nhạc Hope Rocks trong năm 2005 nhằm quyên góp lợi nhuận cho Trung tâm điều trị Ung thư City of Hope. Ngày 25 tháng 10 năm 2009, anh xuất hiện tại chương trình Concert of Hope cùng Miley Cyrus và Demi Lovato.





IV. Những bộ phim tham gia



1. Phim ảnh




Năm
Tựa
Vai
Ghi chú
2001
The Pirates of Central Park
Simon Baskin

Dream Street Live
Bản thân

2002
The Biggest Fan
Phim truyền hình
2005
Pizza
Justin Bridges
Hài
Jesse McCartney Up Close
Bản thân
Phim tài liệu
Jesse McCartney Live: The Beautiful Soul Tour
Phim hòa nhạc
2007
Alvin and the Chipmunks
Theodore
Lồng tiếng
2008
Horton Hears a Who!
Jojo
Unstable Fables: 3 Pigs and a Baby
Lucky
Keith
Keith Zetterstrom
Liên hoan phim quốc tế Palm
Tinker Bell
Terence
Lồng tiếng
2009
Jesse McCartney: Live at the House Blues Sunset Strip
Bản thân
Phim hòa nhạc
Tinker Bell and the Lost Treasure
Terence
Lồng tiếng
Alvin and the Chipmunks: The Squeakquel
Theodore
2010
Beware the Gonzo
Gavin Reilly
Liên hoan phim Tribeca
Tinker Bell and the Great Fairy Rescue
Terence
Lồng tiếng
2011
The Clockwork Girl
Huxley
Tinker Bell and the Pixie Hollow Games
Terence
Alvin and the Chipmunks: Chip-Wrecked
Theodore
2012
Tinker Bell: Secret of the Wings
Terence
Chernobyl Diaries
Chris
Kinh dị
2013
Campus Life
Airi

Wings
Cyclone
Lồng tiếng




2. Chương trình TV




Năm
Tựa
Vai
Ghi chú
1998 - 2001
All My children
JR Chandler
Giải Young Artist Award cho Vai diễn trong Phim truyền hình buổi sáng của Nam Diễn viên trẻ Xuất sắc nhất

Giải Young Artist Award cho Vai diễn trong Phim truyền hình buổi sáng của Nam Diễn viên Phụ Xuất sắc nhất

Đề cử - Soap Opera Digest Award cho Diễn viên Nhí Xuất sắc

Đề cử - Daytime Emmy Award cho Vai diễn trong Phim truyền hình của Nam Diễn viên trẻ Xuất sắc nhất
2000
Law & Order
Danny Driscoll
“Thin Ice" (Phần 11, tập 8)
2002
The Strange Legacy of Cameron Cruz
Cameron Cruz

2004
What I Like About You
Bản thân
"The Not-So Simple Life" (Phần 3, tập 3)
2004 - 2005
Summerland
Bradin Westerly
Vai chính

Đề cử - Giải Teen Choice Award cho Nam diễn viên trong Phim truyền hình được Bình chọn nhiều nhất
2005
The Suite Life of Zack & Cody
Bản thân
"Rock Star in the House" (Phần 1, tập 17)
Punk'd
2 tập
2006
Celebrity Duets
Biểu diễn âm nhạc
Schooled
Biểu diễn âm nhạc
All My Children
Biểu diễn âm nhạc
2007
Hannah Montana
"When You Wish You Were the Star" (Phần 2, tập 12)
2008
Extreme Makeover: Home Edition
"The Gilyeat Family" (Phần 5, tập 16)
Dance on Sunset
Biểu diễn âm nhạc
Dancing with the Stars
Biểu diễn âm nhạc
Law & Order: Special Victims Unit
Max Matarazzo
"Babes" (Phần 10, Tập 6)
Dick Clark's New Year's Rockin' Eve
Bản thân
Biểu diễn âm nhạc
2009
Greek
Andy
"Take Me Home, Cyprus Rhodes" (phần 2, tập 11)

"From Rushing with Love" (phần 2, tập 12)

"Engendered Species" (phần 2, tập 13)

"Big Littles and Jumbo Shrimp" (phần 2, tập 14)

"Evasive Actions" (phần 2, tập 15)

"Guilty Treasures" (phần 2, tập 17)
2010
An Evening of Stars: Tribute to Lionel Ritchie
Bản thân
Biểu diễn âm nhạc
2010-2013
Young Justice
Robin/Dick Grayson/Nightwing
Lồng tiếng
2011
Locke & Key
Tyler Locke
Tập thử nghiệm (Pilot Episode)
2012
CSI: Crime Scene Investigation
Wes Clyborn
Seeing Red (phần 12, tập 14)
2013
Ben and Kate
College Guy
Ethics 101 (Phần 1, tập 16) Cameo
Army Wives
Tim Truman
Phần 7 (Dàn diễn viên chính)


3. Trò chơi điện tử




Năm
Tựa
Vai
Ghi chú
2006
Kingdom Hearts II
Roxas

2007
Kingdom Hearts II Final Mix
Roxas

2008
The Hardy Boys: The Hidden Theft
Frank Hardy

2009
Kingdom Hearts 358/2 Days
Roxas

2010
Kingdom Hearts Birth by Sleep
Ventus/Roxas

2011
Kingdom Hearts Re:coded
Roxas

2012
Kingdom Hearts 3D: Dream Drop Distance
Roxas/Ventus

2013
Young Justice: Legacy
Nightwing

2013
Kingdom Hearts HD 1.5 Remix
Roxas
Sản phẩm thu âm




V. Giải thưởng và đề cử




Năm
Giải thưởng/Đề cử
Ghi chú cụ thể
1998
Đề cử
Giải Grammy cho Album xuất sắc nhất dành cho lứa trẻ

(Bài How Sweet It Is, một phần của Sugar Beats)
2001
Đề cử
Giải Soap Opera Digest – Diễn viên Nhí Xuất sắc
2001
Đề cử
Giải Daytime Emmy – Diễn viên truyền hình trẻ Xuất sắc
2002
Giải thưởng
Young Artist Award – Vai diễn trong Phim truyền hình buổi sáng của Nam Diễn viên trẻ Xuất sắc nhất
2002
Đề cử
Daytime Emmy – Diễn viên truyền hình trẻ Xuất sắc
2005
Giải thưởng
Teen Choice Awards – Nam nghệ sĩ được bình chọn
2005
Giải thưởng
Teen Choice Awards – Nam nghệ sĩ đột phá được bình chọn
2005
Giải thưởng
Teen Choice Awards – Nghệ sĩ Crossover
2005
Đề cử
MTV Video Music Awards - Video pop hay nhất cho "Beautiful Soul"
2005
Giải thưởng
Radio Disney Music Awards – Ca khúc hay nhất được Lặp lại
2005
Đề cử
American Music Awards – Nghệ sĩ mới Xuất sắc nhất
2005
Giải thưởng
Radio Disney Music Awards – Bài hát Karaoke Hay nhất
2005
Giải thưởng
Radio Disney Music Awards - Nam ca sĩ Xuất sắc nhất
2006
Giải thưởng
Kids Choice Awards - Nam ca sĩ được Yêu thích nhất
2006
Giải thưởng
TRL Awards Italy - "Giọt lệ" Xuất sắc nhất
2007
Đề cử
Kids Choice Awards Award Italy - Nghệ sĩ Quốc tế Xuất sắc nhất
2007
Đề cử
TRL Awards Italy – Nam ca sĩ Xuất sắc nhất
2007
Đề cử
TRL Awards Ý - Video Hay nhất cho "Just So You Know"
2007
Đề cử
Kids Choice Awards – Nam ca sĩ được Yêu thích nhất
2007
Giải thưởng
Radio Disney Music Awards - Nam ca sĩ Xuất sắc nhất
2008
Đề cử
TRL Awards Italy – Người đàn ông của Năm
2008
Đề cử
Teen Choice Awards – Nam nghệ sĩ được Bình chọn nhiều nhất
2008
Đề cử
Teen Choice Awards - Có lượng người hâm mộ Cuồng nhiệt nhất
2008
Đề cử
Teen Choice Awards – Bài hát mùa hè được Bình chọn nhiều nhất (Leavin')
2009
Giải thưởng
Starshine Music Awards - Nam nghệ sĩ Xuất sắc nhất
2009
Giải thưởng
Kids Choice Awards – Nam ca sĩ Xuất sắc nhất
2009
Đề cử
Teen Choice Awards – Bài hát Tình yêu được Bình chọn nhiều nhất (How Do You Sleep?)
2009
Giải thưởng
26th Annual ASCAP Pop Music Award – Ca khúc của Năm (Nhạc sĩ cho bài hát của Leona Lewis "Bleeding Love")
2010
Giải thưởng
Kids Choice Awards – Bộ phim Xuất sắc nhất (Alvin and the Chipmunks: The Squeakquel)
2010
Giải thưởng
Giffoni Award - Liên hoan phim Giffoni
2012
Giải thưởng
Kids Choice Awards – Bộ phim được yêu thích ((Alvin and the Chipmunks: Chipwrecked)
2012
Đề cử
Teen Choice Awards – Diễn viên lồng tiếng được Bình chọn nhiều nhất


VI. Danh mục đĩa

  • Beautiful Soul (2004)



  • Right Where You Want Me (2006)



  • Departure (2008)



  • Have It All







VII. Tours lưu diễn

  • 2004/2005: Beautiful Soul Tour



  • 2005: Backstreet Boys: Never Gone Tour



  • 2006/2007: Right Where You Want Me Tour



  • 2008: Departure Mini-Tour



  • 2008: Jesse & Jordin LIVE Tour



  • 2009: Headlining Tour



  • 2009: New Kids on the Block: Full Service Summer Tour



  • 2013: Backstreet Boys: In A World Like This Tour









Nguồn: Wikipedia

Dịch& BBCode: ZunoYui
Scheherazade
Scheherazade

Total posts : 262

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum