[Music Artist Wiki] Utada Hikaru

Go down

[Music Artist Wiki] Utada Hikaru Empty [Music Artist Wiki] Utada Hikaru

Post by Scheherazade on Thu Nov 13, 2014 12:01 pm



 
 
Hikaru Utada

宇多田 ヒカル


 
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh
Hikaru Utada (宇多田 光)
Nghệ danhUtada, Hikki, Cubic U
Sinh ngày19/01/1983, New York City, New York, United States
Nguyên quánTokyo, Nhật Bản
Thể loạiPop, Ethereal wave, R&B, Experimental, Electronica, Rock, Dance, Hip-hop, Funk, Dance-pop, Electropop
Vai tròSinger, Songwriter, Producer, Composer, Arranger
Nhạc cụ biểu diễnVocals, guitar, piano
Năm hoạt động1996–2011 (đang tạm nghỉ)
Hãng đĩaEMI Music Japan
Island Def Jam Music Group (2004 - 2010)
EMI (2010 – hiện tại)
Trang webEMI Music
U3 Music (Personal Blog)
Official Twitter account
Official YouTube account




Utada Hikaru


HHikaru Utada (宇多田 ヒカル Utada Hikaru?, sinh ngày 19/01/1983) được biết với nghệ danh Utada ở Mỹ và Châu Âu, là một ca sĩ, nhạc sĩ, sản xuất nhạc Nhật Bản. Từ khi bản phát hành album debut Nhật Bản của cô (trở thành bả best-selling trong lịch sử Oricon đến lúc đó), Utada đã có 3 album studio nằm trong top 10 album bán chạy nhất ở Nhật Bản và album thứ 6 của cô (bao gồm cả tiếng tiếng anh và một bản tập hợp) đứng trong danh sách 275 album bán chạy nhất. Utada đã có 21 single trên bảng xếp hạng Oricon, với 2 kỷ lục đáng chú ý dành cho ca sĩ nữ hoặc nhóm nhạc : bán được 5 triệu bản và có 4 album nằm trong top 100 single bán chạy nhất mọi thời đại. Utada có khoảng 52 triệu bản bán trên khắp thế giới.



Cô được tạp chí Time đánh giá là “Diva đại học”, một sự liên tưởng đến việc cô vào học trường đại học Columbia, và gác việc học vào năm 2000. Năm 2009, cô được xem như là “nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất thời đại” trong làng nhạc Nhật Bản bởi tờ The Japan Times. Năm 2003, Utada được xếp thứ 24 trong cuộc nghiên cứu 100 nghệ sĩ Pop nhất Bản mọi thời đại, đứng thứ 10 trong top 30 30 Best Japanese Singers of All Time của HMV năm 2006.

Ngoài ra, Utada còn nổi tiếng ở phía Tây vì đã có 2 ca khúc chủ đề góp phần trong loạt serie game hợp tác giữa Square Enix và Disney : Kingdom Hearts: "Simple and Clean" (được viết lời lại phiên bản tiếng Anh trong single Nhật Bản thứ 10, Hikari) trong Kingdom Hearts và "Passion" trong Kingdom Hearts II (sau đó được thu âm lại với ca từ tiếng Anh với tựa đề "Sanctuary" trong bản phát hành game ở Bắc Mỹ và Châu Âu). Năm 2007, single "Flavor of Life" đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng năm mục download digital với hơn 7,2 triệu lượt download, góp phần nên lượng bán digital vượt mức 12 triệu bản của cô trong cùng năm.






 
SỰ NGHIỆP


Thời niên thiếu và khởi nghiệp

 




Hikaru Utada sinh ra ở vùng Manhattan, là đứa con duy nhất của nhà sản xuất nhạc người Nhật Teruzane Utada cùng với vợ là Junko Utada, một ca sĩ nhạc enka, biểu diễn dưới nghệ danh Keiko Fuji. Cô đã thực hiện việc thu âm cùng với mẹ mình, phát hành các ca khúc dưới một ban nhạc có ten “U3” (cũng được đọc là Utada 3) cho đến năm 1996, khi cô bắt dầu dự án solo đầu tiên của mình có tên "I'll be Stronger." The "Cookin' với giọng mose “từ dụ án có tên gọi là” "Cookin' With Gas Vocal" trong phần phát hành quảng bá.



"I'll Be Stronger" là ca khúc đầu tiên mà Utada viết. Nó được phát hành dưới tên nghệ sĩ "Cubic U", một sự liên tưởng đến cô là một “tài năng” Utada thứ 3, biệt hiệu của Hikaru trước khi trở thành siêu sao ở Nhật Bản. Ca khúc không được phát hành ở Mỹ, và năm 1997, cô bắt đầu dự án mới của mình, mặc dù lúc đầu cô có hơi do dự. Cubic U dã phát hành single debut "Close to You", cover lại từ một ca khúc của Carpenters. Sau đó cô phát hành album debut Precious. Cô phát hành Precious tại Nhật Bản vào ngày 28/01/1998 và sau dó lại tái phát hành vào ngày 31/03/1999.








Thành công vượt bậc : 1998 – 2003

 




Utada chuyển tới Tokyo vào cuối năm 1998 và vào học tại trường Quốc tế Seisen, và sao đó là trường Bắc Mỹ tại Nhật Bản, sau khi tiếp tục thu âm trên một hợp đồng mới với Toshiba-EMI. Bước chuyển ban đầu của cô đến từ FM radio Nhạt Bản. Không như những nghệ sĩ pop cùng thời, cô tập trung để trở thành một ca sĩ và nhạc sĩ trong khi những nữ nghệ sĩ khác lại cố gắng trở thành thần tượng. Ảnh hưởng của việc phát hành album ra mắt Nhật Bản First Love, Utada phát hành 2 single triệu bản : "Automatic/Time Will Tell" và "Movin' on Without You". "Automatic/Time Will Tell" đã bán được hơn 2 triệu bản. Sau single, album debut đã bán được hơn 7 triệu bản tại nhật Bản (cộng them 3 triệu bản ở nước ngoài, đưa tổng số lên ít nhất là 10 triệu bản) trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử hiện tại của Nhật Bản. Album này cũng phải thua kém single "First Love", nằm ở vị trí thứ 2. Vào cuối năm, Utada đứng thứ 5 trên một kênh radio Tokio Hot 100 Airplay mục Top 100 Artists of the 20th Century được bình chọn bởi chính kênh radio và thính giả.



Sau hai năm, Utada phát hành album album tiếp theo Distance, tuần đầu bán được 3 triệu bản. Bản tổng hợp greatest hits của Ayumi Hamasaki phát hành cùng một tuần nhắm vào việc tạo nên một cuộc đọ kiếm bởi hãng đại diện của Ayumi, Avex Trax. Cuộc đụng cộ này đã giúp 2 album phá vỡ kỷ lục album bán nhanh nhất trên toàn thế giới, album của Utada chỉ kém vị trí thứ 1 không đến 150 ngàn bản. Theo sau bởi single của cô — "Addicted to You", "Wait & See: Risk", "For You/Time Limit" và "Can You Keep a Secret?" — Distance trở thành album bán chạy nhất của năm, với lượng bán 4.469 triệu chỉ ở Nhật Bản. "Addicted To You" trở thành single bán chạy nhất của Utada, bán được 1 triệu bản trong tuần đầu tiên và trở thành lượng bán trong tuần đầu tiên cao nhất đối với ca sĩ nữ và yên vị trong bảng xếp hạng sau 2 tuần. "Wait & See: Risk" và "Can You Keep A Secret" sau đó cũng đứng thứ 6 và thứ 10 trong danh sách của Oricon, mục Single bán chạy nhất từ 01/01/2999 đến 24/04/2006. Utada cũng đi bước tiếp theo phát hành một single tặng cho các nạn nhân nữ của vụ thảm sát ở Ikeda, Osaka, có tên "Final Distance".

Năm 2001, Utada thu âm một ca khúc cho bộ phim hành động, hài Rush Hour 2, Blow My Whistle, hợp tác với tay rap người Mỹ Foxy Brown, và được chính Utada sáng tác, đồng hành cùng Pharrell Williams và Chad Hugo. Ca khúc nằm trong Rush Hour 2 soundtrack của Def Jam, nằm ở vị trí 11 trên Billboard 200 và Top R&B/Hip-Hop Albums và cũng là vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng Top Soundtracks. Mặc dù Hikaru thường tự sản xuất ca khúc cho mình, Blow My Whistle được The Neptunes sản xuất.



Trước album thứ 3 của mình, Utada phát hành "Traveling", "Hikari", và "Sakura Drops/Letters": tất cả các ca khúc này đều đứng đầu bản xếp hạng. Trước khi phát hành album thứ 3 của Utada, Deep River, nữ ca sĩ này đã phải chịu phẫu thuật sau khi được chuẩn đoán là bị nang buồng trứng, khiến Utada phải gác lại các hoạt động quảng bá của mình. Sau khi điều trị, cô phát hành Deep River và ngay lập tức tổ chức tour quảng bá. Trong khi không có sự xuất hiện trên truyền hình nào, cô đã quảng bá album của mình qua tạp chí và phỏng vấn radio.



Deep River bán được 2.35 triệu bản trong tuần đầu tiên : Oricon đưa tin rằng lượng bán cuối cùng là 3.6 triệu bản, đưa Utada trở thành ca sĩ duy nhất trong lịch sử âm nhạc Nhật Bản có được 3 album liên tiếp vượt qua được con số 3 triệu bản, RIAJ chứng nhận. Đây là lần thứ 3 liên tiếp cô đứng vị trí số 1 trong bảng xếp hạng album năm của Oricon và trở thành nữ ca sĩ đứng thứ 8 có lượng album bán chạy nhất mọi thời đại của Nhật Bản.



Năm 2003, lịch trình cuộc sống cá nhân và công việc của Utada lại năng động hơn vì cuộc hôn nhân và hợp tác với hãng Island Records ở Mỹ để phát hành một album ra mắt bằng tiếng Anh. Mặc dù cô đã phát hành "Colors", single duy nhất của cô trong năm 2003. Ca khúc này là ca khúc đầu tiên có một giai điệu cao vút trong discography của Utada. Nó trở thành single lâu đời nhất của cô với kỷ lục trụ lại trong 45 tuần trong bảng xếp hạng của Oricon, bán được 881,000 bản và đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng Single năm.






Bước vào thị trường quốc tế : 2004 – 2005

 




Album tổng hợp các single đầu tiên Utada Hikaru Single Collection Vol.1 được phát hành vào ngày 31/03/2004. Nó trở thành album bán chạy nhất năm 2004, đưa cô trở thành nghệ sĩ duy nhất đạt được vị trí thứ 1 bốn lần trong bảng xếp hạng năm. Đây là album tổng hợp đầu tiên đạt đến vị trí thứ 1 trong sáu năm trong bảng xếp hạng năm và là album tổng hợp đầu tiên đjat vị trí thứ 1 trong 26 của các nữ ca sĩ. Mặc cho thành công của nó, album lại có rất ít quảng bá, và chẳng hề có tấm ảnh kèm theo nào; hơn thế nữ, nó đã trụ lại lâu hơn trên bảng xếp hạng của Oricon hơn bất kỳ bản phát hành nào khác của Utada (trong 2 năm). Album đã bán được hơn 2.575 triệu bản tại Nhật Bản, đưa nó lên vị trí 34 trong số các album bán chạy nhát tại đất nước. Một tháng sau, ngày 21/04, cô phát hành single Nhật Bản duy nhất trong năm 2004, "Dareka no Negai ga Kanau Koro," đứng đầu bảng xếp hạng single trong 2 tuần liên tiếp và bán được 365.000 ngàn bản vào cuối năm và là ca khúc chủ đề chính cho Casshern, phim đạo diễn ra mắt của chồng cũ của cô.





Vào giữa năm 2004, Utada trở về New York, và bắt đầu làm việc trong một hợp đồng thu âm mới với Island Def Jam Music Group. Ngày 05/10/2004, cô phát hành album ra mắt tại Bắc Mỹ bằng tiếng Anh, Exodus, dưới cái tên Utada. Nó được phát hành sớm hơn một tháng tại Nhật Bản, với một quyển booklet đặc một nằm trong một cardboard slipcase. Trong buổi phỏng vấn với MTV, Utada đã nói : “Tôi không nghĩ gì về âm nhạc mà tôi tập trung vào. Rõ rang là tôi trông rất khác và cũng không có nhiều người Châu Á thuần chủng (những người là ca sĩ nổi tiếng tại Mỹ). Exodus trở thành bản phát hành thứ 4 liên tiếp của Utada đứng vị trí thứ 1 và tẩu tán được 500 ngàn bản trong tuần đầu tiên. Mặc dù có sự tham gia của Timbaland trong việc sản xuất và hợp tác sáng tác vài ca khúc, việc ra mắt tại Mỹ với tư cách là nghệ sĩ Island Records lại gặp phải nhiều khác biệt bởi thị trường Châu Mỹ, bán 55,000 bản. "Easy Breezy" được phát hành thành single vào đầu tháng 08/2004, đạt vị trí thứ 9 tren bảng xếp hạng Billboard Hot Dance/Club Airplay , theo sau bởi "Devil Inside" sau đó 1 tháng rưỡi. Và Utada được lên hình bìa của tạp chí Interview, số tháng 06/2005.



"Exodus '04" được phát hành vào cuối tháng 06/2005 và bao gồm bản remix của The Scumfrog, Richard Vission, JJ Flores và Peter Bailey. Tại Mỹ, Mercury đã them 2 bản remix cho "You Make Me Want to Be a Man" trong album nguyên bản Exodus 04, có tên "You Make Me Want to Be a Man [Bloodshy & Avant Mix]" và "You Make Me Want to Be a Man [Junior Jack Mix]." Cuối năm Utada được bình chọn là "Number 1 Favorite Artist of 2004" trong cuộc bình chọn hàng năm dành cho độc giả của Oricon.



Album thứ 4 từ Exodus, "You Make Me Want to Be a Man", được phát hành vào thàng 10/2005 tại Mỹ. "Devil Inside" trở thành cú bùng nổ tại câu lạc bộ Anh và đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng Billboard Hot Dance/Club Airplay. Cả album Exodus và single "You Make Me Want to Be a Man" phát hành tại Mỹ, đều có việc tạo hình khác với phiên bản tại Nhật và Mỹ.




Trở lại Nhật Bản : 2005 – 2008

 




Một năm sau khi phát hành và quảng bá quốc tế của Exodus, Utada trở lại Tokyo để về với làng nhạc Nhật Bản. Trước bản phát hành album thứ 4 của mình, Ultra Blue, Utada đã hát hành một chuỗi các single hit thành công : singles: "Colors" (number 1), "Dareka no Negai ga Kanau Koro" (number 1), "Be My Last", (number 1), "Passion" (number 4), và "Keep Tryin'" (number 2). Single digital "This Is Love" được phát hành để quảng bá cho album, đã được download gần 1 triệu lượt.



Ultra Blue đã bán dược 500,317 bản trong tuần đàu tiên, thấp hơn album lần trước, mặc dù nó vẫn đứng nhất trên bảng xếp hạng ngày, tuần và tháng. Ultra Blue trở thành album Nhật Bản 5 lần liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng (bao gồm cả album tiếng Anh). Vào ngày 13/07, Toshiba EMI đưa ra một công bố rằng Ultra Blue bán được hơn 1 triệu bản trên toàn thế giới và 4 triệu lượt download nhạc chuông đưa nó trở thành một trong 10 album bán chạy nhất của EMI trong các năm qua. Album, không nhiều nhạc pop, và gặp phải sự khác biệt và lượng bán cao, mặc dù được chứng nhận triệu bản của RIAJ. Thêm vào đó, nó là album studio bán chạy nhất của các nữ ca sĩ trong năm 2006 tại Nhật Bản.



Ultra Blue sau đó có mặt trong mục online music của iTunes, dứng thứ 4 trong bảng xếp hạng down load năm 2006. 2 tuần sau khi phát hành Ultra Blue, Utada bắt đầu tour lưu diễn quốc gia "Utada United 2006" vào ngày 30/06/2006 và kết thúc vào ngày 12/09/2006. Đây là tour concert thứ 2 của Utada sau tour debut "Bohemian Summer 2000" và 5 buôi diễn tại Nippon Budokan năm 2004. Bên cạnh các tác phẩm Nhật Bản, danh sách bài hát của tour cũng bao gồm ba ca khúc trích từ album tiếng Anh năm 2004, Exodus.



Các single được phát hành nằm trong album studio thứ 5 của Utada, Heart Station, có thể đại đến vị trí Top Five trong bảng xếp hạng, bao gồm vị trí thứ 1 của hit "Flavor of Life", trở thành single digital bán chạy nhất tại Nhật Bản với hơn 7,5 triệu lượt download. Cùng thời gian, Utada đã nó cô đã đến New York nói chuyện với nhà sản xuất và biên tập tại Island/Def Jam về việc thu âm album tiếng Anh mới. Cuối năm đó một bản digital của nghệ sĩ R&B Mỹ Ne-Yo, có tên "Do You" từ album 2007 của anh , Because of You hợp tsac cùng Utada và được phát hành tại Nhật Bản vào ngày 21/11 (ca khúc sau đó nằm trong album "best of" của Ne-yo, Ne-Yo: The Collection, phát hành vào ngày 02/09/2009, tại nhật Bản và tháng 11/2009 tại Mỹ).





Năm 2007 kết thúc với "Flavor of Life" trở thành single bán chạy nhất năm 2007 và trở Utada lại được bầu chọn là "Number 1 Favorite Artist of 2007" trong bảng xếp hạng năm của Oricon, 3 năm sau khi cô được bình chọn thứ 1 trong bảng xếp hạng này. Cô đã bán được 12 triệu bản nhạc chuông và bài hát trong năm 2007, con số cao nhất của các nghệ sĩ Nhật Bản trong 1 năm. Single cũng là ca khúc chính trong bộ phim truyền hình mùa thứ 2 Hana Yori Dango.



Album studio thứ 5 của Utada, được phát hành vào ngày 19/03/2008, trở thành album studio Nhật Bản thứ 5 liên tiếp đứng thứ nhất. Mặc dù nó có lượng bán tuần đầu thấp nhất trong sự nghiệp của Utada, với 480,081, lượng bán của album này vẫn đạt được con số triệu bản trên Bảng xếp hạng Oricon vào tháng 01/2009, đưa nó trở thành album Nhật bản đầu tiên của cô đạt được kể từ album tổng hợp năm 2004. Nó được chứng nhật 1 triệu bản bởi RIAJ. Heart Station trở thành album digital bán chạy nhất trên iTunes năm 2008 tại Nhật Bản, và cũng là album studio nguyên bản bán chạy nhất của nữ ca sĩ trên bảng xếp hạng năm của Oricon.



Ca khúc "Prisoner of Love" được sử dụng là ca khúc chủ đề cho bộ phim truyền hình với thành công rất lớn, Last Friends, được trình chiếu vào mùa xuân. Mặc dù không được phát hành thành một single, nhưng sau khi được sử dụng trong chương trình, ca khúc được phát hành thành single và đạt đến vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng của iTunes và Chako-Uta. Nó đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng tuần Oricon. Và nó cũng đã đạt giải Best Theme Song vào lễ trao giải Phim Hàn Lâm lần thứ 57 và có 2,9 triệu lượt download, đánh dấu ca khúc trong phim thành công thứ 4 của (theo sau ca khúc First Love của Majo no Jouken năm 1999, Can You Keep a Secret của Hero năm 2001, Flavor of Life của Hana Yori Dango năm 2007).



Vào ngày 20/10/2008, ca khúc "Eternally" nằm trong album Distance năm 2001 được sử dụng làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Innocent Love.Ca khúc sau đó được phát hành làm digital single.



Vào cuối năm, Utada lại được bình chọn "Number 1 Favorite Artist of 2008" trong bảng xếp hạng hàng năm dành cho độc giả của Oricon, đưa cô trở thành năm thứ 2 liên tiếp và lần thứ 3 được bình chọn, 2 lần trước là năm 2004 và 2007.




Trở lại Bắc Mỹ : 2009 – 2010

 




Vào ngày 16/12/2008, thông tin lộ ra trên internet rằng single tiếng Anh tiếp theo của Utada, có tên "Come Back to Me", được lên lịch phat song thông qua dạng U.S. Rhythmic/Crossover và Mainstream vào ngày 09 và ngày 10/02/2009, theo một trang web thông tin FMQB và R&R. của Mỹ. Ca khúc sau được phát trên trang web All Access của Island, và trang nhạc trên MySpace của cô để quảng cso . Hãng Island Records cũng cập nhật trang web của họ cùng với thông tin liên quan đến single của Utada, và bao gồm cả đường dẫn đến trang web chính thức tiếng Nhật và trang MySpac, cả 2 đều có bản preview. Thêm vào đó, một dãy số mà fan có thể nhắn tin để tham gia vào danh sách điện thoại của Utada để nhận được các cập nhật mới. Album tiếng Anh mới, có tên This Is the One, được phát hành vào ngày 14/03/2009, Utada thông báo rằng cô đang trong quá trình thu âm single tiếng Nhật tiếp theo của mình. This Is the One ra mắt đứng vị trí thứ 1 tại Nhật Bản vào ngày 13/03/2009, ngày được phát hành tại Nhật Bản, nhưng trở thành album đầu tiên của Utada không đứng thứ 1 nhất trên bảng xếp hạng tuần kể từ Precious. Vào ngày 30/03/2009, cô xuất hiện trên kênh radio của New York , Z-100 (100.3), chương trình pop radio lớn nhất ở Mỹ và tham gia một chương trình phỏng vấn trực tiếp trên chương trình buổi sáng của Elvis Duran, một chương trình đáng chú ý dẫn đến một lịch trình quảng bá cho bản phát hành physical quốc tên vào ngày 12/05. Utada cũng hat ca khúc chủ đều cho bộ phim phần cuối Evangelion, Evangelion 2.0 You Can (Not) Advance. Single được phát hành vào ngày 27/06/2009, và bản remix single trước kia của cô, Beautiful World. Single mới có tên là Beautiful World -PLANiTb Acoustica Mix-.



Vào ngày 14/10, Utada đã đề cập rằng cô đã viết lời ca khúc đã được giải quyết vào ngày 15/10. Cô cũng nói them rằng “ma thuật Đức” sẽ được thêm vào phần nhạc. Được tiếp lộ rằng Goetz B, trước kia đã từng làm việc với Utada trong albumUltra Blue đang trong quá trình mix các bản track cho cô. Đáng chú ý nhất là ca khúc "Show Me Love", được thông báo là sẽ phát hành thành một single tiếng Nhật vào một ngày chưa xác định được.



Ngày 30/11/2009, tại Studio Coast, Tokyo, Utada đã hát song ca ca khúc Let It Snow cùng ca sĩ Mika. Mika đã post lên trên Twitter account của mình về Utada: "Được đứng cùng sân khấu với Hikaru Utada đêm nay. Chúng tôi đã hát "let it snow".Thật tuyệt vời. Tôi yêu cô ấy.”

Vào ngày 21/12/2009, Dirty Desire được remix của Utada chỉ được phát hành trên Amazon.com, Zune Marketplace, và iTunes Store của Mỹ, để hỗ trợ This Is the One và tour lưu diễn tiếp theo của cô. Tour lưu diễn này, có tên Utada: In The Flesh 2010, là tour lưu diễn đầu tiên của cô ngoài Nhạt Bản và bao gồm 8 thành phố tại Mỹ và 2 ngày tại Luân Đôn. Vé cho buổi diễn thứ 2 tại Luân ĐÔn được bán đại trà vào ngày 13/11 và được cho biết bán hết trong vòng 5 giờ. Trong một buổi phỏng vấn trước khi cô khởi đầu cho In The Flesh, Utada đã nói cô đang lên kế hoạch quảng bá This Is the One, và single mới nhất của cô, Dirty Desire. Cô cũng bày tỏ rwafng cô đang lên kế hoạch làm bìa album, hoặc chỉ nghỉ ngơi để có ý tưởng mới.






Trở lại Nhật Bản và tạm nghỉ : 2010 – 2011

 


Vào ngày 09/08/2010, Utada thông báo trên trang blog cá nhân của mình rằng bắt đầu từ năm 2011, cô muốn một cuộc nghỉ ngơi, bày tỏ sự mệt mỏi kể từ khi debut 12 năm trước. cô cũng bày tỏ rằng mình cần được nghỉ ngơi, để học hỏi thứ mới , và tìm hiểu về thế giới, cũng như để nhìn nhật một vài vấn đề cá nhân. Cô đã nói sự tạm ngừng này sẽ kéo dài từ 2 đến 5 năm.



Trước khi tạm ngừng, cô đã nói cô sẽ “tiết giảm” các hoạt động nghệ sĩ của mình, và ngay sau khi trang web của cô được cập nhật, và một album tổng hợp mới, Utada Hikaru Single Collection Vol. 2, được thông báo phat hành vào ngày 24/11/2010. Album mới này sẽ bao gồm tất cả các single tiếng Nhật của cô kể từ Dareka no Negai ga Kanau Koro cho đến Prisoner of Love ở đĩa 1, cũng như thêm một phần EP extra, bao gồm 5 ca khúc mới. Sau đó nó được thông báo rằng bản DVD bao gồm video quảng bá cho Goodbye Happiness sẽ nằm trong phiên bản 1st press đặt trước.



Ngày 27/09/2010, Utada tiết lộ một single mới, có tên Hymne à l'amour (Ai no Anthem), trở thành ca khúc chủ đều cho thức uống giải khát mới nhất của Pepsi, Pepsi NEX. Ca khúc bao gồm cả tiếng Pháp và tiếng nhật, đặc biệt được viết và dịch bởi chính Utada.



Một thông báo mới của Utada sẽ biểu diễn một tour concert ngắn có tên Wild Life (chỉ ngày 08 và 09 /12) tại Yokohama Arena, Yokohama để quảng bá album, concert nhật Bản đầu tiên kể từ năm 2006, Utada United.



Vào ngày 03/10/2010, trang web EMI Music chính thức của Utada đã cập nhật với phần artwork của album và cả tracklist cuối cùng cho Utada Hikaru Single Collection Vol. 2. Phiên bản First Press sẽ có 3 slipcase cùng với một bùa may mắn Kuma-chang và một tấm vé để fan có cơ hội đoạt được 1 trong 1 ngàn vé đến WILD LIFE (tuy nhiên, ý tưởng này sau đó đã hủy bỏ).



Vào ngày 15/10/2010, được thông báo rằng hậu trường từ In The Flesh 2010 tour sẽ được phát hành trong các tháng tiếp theo được chính Utada và Teruzane xác nhận, và một DVD đã phát hành ủng hộ cho gói digital. Vào cùng ngày, Teruzane đã post lên twitter rằng kế hoạch cho tour Wild Life đang bắt đầu hình thành, khi các buổi trò chuyện đã được sắp xếp và sân khấu được dựng. Chương trình cũng lần đầu tiên được chính Utada dàn dựng, cùng với sự cộng tác của Teruzane .



Vào cuối tháng 10, mặc dù không có một thông báo trước gì từ Utada hay các staff và quản lý của cô, được tiết lộ online trên Tower Records Japan và rất nhiều trang web khác rằng best album tiếng Anh của cô "Utada the Best" sẽ có mặt tại Nhật Bản trong cùng ngày với Utada Hikaru Single Collection Vol. 2, 24/11. Tự Utada đã phản ứng lại với thông tin đó, cô bày tỏ “Tôi hiểu là nếu nó không bán tôi sẽ là người đầu tiên chịu trạn, nhưng thành thực mà nói, tôi không muốn fan vung tiền cho những tứh không có trong tim tôi” và sau đó “bản phát hành 'Utada the best' hoàn toàn ngược lại với ý muốn của tôi. Tôi ước gì fan không mua nó. Chẳng có gì trong đó cả.”



Utada sau lại thông báo một single mới, Goodbye Happiness, bắt đầu phát song radio tại Nhật Bản vào ngày 01/11/2010 và Chaku-Uta bắt đầu từ ngày 03/11. Ca khúc được chọn làm ca khúc quảng cáo cho Recochoku Chaku-Uta TV.



Vào ngày 08/11/2010, EMI Music thông báo trên trang web của họ rằng họ đã làm một việc thương lượng “thu âm toàn cầu mới” với Utada, cũng nhận định rằng tất cả các sản phẩm của Utada (tiếng Anh và tiếng Nhật) sẽ được phát hành dưới 1 tên duy nhất "Hikaru Utada".



Ngày 24/11/2010, lượng bán tuần đầu tiên của Utada Hikaru Single Collection Vol. 2 là 231,000 bản theo bảng xếp hạng album ngày của Oricon. Mặc dù thấp hơn rất nhiều so với Heart Station, bản phát hành này cũng đánh dấu là album no1 thứ 7 liên tiếp của cô (5 nguyên bản và 2 tổng hợp) kể từ khi debut, qua mặt kỷ lục 6 trước đó của Kinki Kids trên bảng xếp hạng Oricon và lịch sử âm nhạc Nhật Bản (theo hãng EMI). Vào ngày 10/04/2011, Utada đạt giải "Best Conceptual Video” trên SpaceShowerTV Music Video Awards cho PV "Goodbye Happiness", đánh dấu debut đạo diễn của cô.





 
Wild Life Tour (Tháng 12/2010)
Utada đã tổ chức 2 concert trước khi tạm ngừng, có tên Wild Life, vào ngày 08 và ngày 09/12/2010, biểu cả hai ngày tại Yokohama Arena, Yokohama. Concert ngày 08/12 được công chiếu ở 64 rạp tại Nhật bản, và sau đó được phát sóng trên Ustream.tv. Giữa hai 2 kênh được dựng lên cho concert trên Ustream, chúng đã có tổng cộng 925.000 lượt xem và 345.000 người xem, cũng như `185.000 comment. Đây là một bản thu toàn cầu trên Ustream.tv.



Kênh truyền hình Nhật bản NHK sau đó đã có một phim tư liệu về Utada vào ngày 15/01/2011. Có tên Utada Hikaru ~今のわたし~ (Utada Hikaru: Ima no Watashi, Utada Hikaru: What I Am), bộ phim bao gồm các buổi diễn studio mới nhất của (Show Me Love (Not a Dream) và Goodbye Happiness), cũng như một vài màn trình diễn tại concert Wild Life hồi tháng 12. Nó cũng chiếu một buổi phỏng vấn tại Wild Life cùng J-Wave host Chris Peppler về quyết định tạm nghỉ cũng cô cũng như nhũng gì cô dự định làm, trong đó cô nói rằng muốn tiếp túc sáng tác trong suốt thời gian tạm nghỉ. Sau đó được tiết lộ rằng phim tư liệu này sẽ được phát sóng trên quốc tế, đặc biệt là ở Mỹ vào ngày 12/02/2011 và Châu Âu vào ngày 02/02/2011, trên kênh NHK (TV Japan ở Mỹ và JSTV ở Châu Âu).



Bản DVD và blu-ray của Wild life được xác nhận và phát hành ngày 06/04/2011. Tuy nhiên, vào ngày 24/03/2011, Utada đã tweet rằng cả DVD và blu-ray đều bị hoãn lại, vì trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản phá hủy các nhà máy. Bản DVD được phát hành vào ngày 20/04/2011 và đĩa blu-ray ra đời một tháng sau đó vào ngày 08/05.





 
Cuộc sống cá nhân


Vào ngày 07/09/2002, Utada kết hôn với Kazuaki Kiriya, một thợ chụp ảnh và đạo diễn phim, và cũng là đàn anh năm cô 15 tuổi, đã đạo diễn vài MV của cô. Sau 4 năm rưỡi kết hôn, cặp đôi này thông báo ly hôn (chính thức vào ngày 02/03/2007), do nhiều thay đổi cá nhân, cách nhìn khác nhau về tương lai hôn nhân, và do bất đồng giao tiếp vì công việc. Utada xác nhân cô đã có 1 bạn trai là đàn anh 8 năm của cô và bắt đầu mối quan hệ vào cuối tháng 09/2009 (tuy nhiên, cô lại tiết lộ chuyện này trước tháng 09). Vào ngày 27/01/2010, được biết họ đã chia tay, vì sự thật là họ chưa bao giờ gặp nhau, và cô qua bận rộn với tour In The Flesh. Tuy nhiên, đến theesng 08/2010, lại có tin họ đã làm lành





 
Phong cách âm nhạc


Bằng sự kết hợp dòng nhạc R&B vào những sáng tác của mình, Utada đã tạo ra một dòng nhạc đặc biệt và trở nên nổi tiếng. Phần lớn sáng tác của Utada là ở tiếng Nhật , phong cách sáng tác của cô hoàn toàn riêng biệt với các nhạc sĩ khác.. Nó nhiều hơn về phần “cảm” (feel), “tinh thần” (soul), và “sự ổn định” (groove) khác xa so với các bài hát Nhật khác vốn dĩ chỉ tập trung vào phần giai điệu và hoà âm. Và kết quả là những sáng tác mới của Hikaru Utada được chấp nhận không chỉ trong giới nghe nhạc Nhật mà cả thế giới.



Trong trang blog chính thức của mình, Utada đã đề cập đến 15 nghệ sĩ : Freddie Mercury, Cocteau Twins, Nine Inch Nails, Jimi Hendrix, Prince, Édith Piaf, Chick Corea, The Blue Nile, Björk, Lenny Kravitz, Béla Bartók, Mozart, Jeff Buckley, Yutaka Ozaki và Hibari Misora là những nghệ sĩ yêu thích của cô.




Scheherazade
Scheherazade

Total posts : 262

Back to top Go down

[Music Artist Wiki] Utada Hikaru Empty Re: [Music Artist Wiki] Utada Hikaru

Post by Scheherazade on Thu Nov 13, 2014 12:01 pm



 
 
Hikaru Utada

Discography
Studio albums
7
Album tổng hợp3
EPs1
Singles27
Digital Singles6


Hikaru Utada

Discography


Đây là nữ ca sĩ Jpop người Nhật Bản – Mỹ Hikaru Utada, một trong những nghệ sĩ thành công nhất của Nhật Bản. Utada đã bán được gần 38 triệu bản single và album chỉ tại Nhật bản, với 7 album, 2 tổng hợp và hàng loạt single.
Mục lục
  1. Albums

  2. Single

  3. VHS / DVD and Blu-ray

  4. DVD Single

  5. Những tác phẩm khác

  6. Lượng bán physical hàng năm (chỉ ở Nhật Bản)


Albums




Album studio tiếng Nhật




NămTựa đềLượng bán chứng nhậnVị trí bảng xếp hạng
JPNTWNHKSIN
1999First Love
 
Phát hành: 10/03/1999
 
Hãng: EMI Music Japan
RIAJ: 8.53 triệu
 
Toàn cầu : 10 triệu
 
Chứng nhận RIAJ: 8x Triệu
1 1 1 1
2001Distance
 
Phát hành: 28/03, 2001
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 4.47 triệu
 
Chứng nhận RIAJ: 4x Triệu
1 1 1 1
2002Deep River
 
Phát hành: 19/06, 2002
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 3.6 triệu
 
Chứng nhận RIAJ: 3x Triệu
1 1 1 1
2006Ultra Blue
 
Phát hành: June 14, 2006
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 1,082,000
 
Chứng nhận RIAJ: Triệu
1 1 1 1
2008Heart Station
 
Phát hành: 19/03, 2008
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 1,011,373
 
Worldwide sales: 1,350,000
 
Chứng nhận RIAJ: Triệu
 
RIAK Certification: Platinum
1 1 1 1


Album tiếng Anh

NămTựa đềLượng bán chứng nhậnVị trí bảng xếp hạng
JPNUSATWNHKSIN
1998Precious
 
Phát hành dưới tên Cubic U
 
Phát hành: 28/01, 1998
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 702,060
 
Chứng nhận RIAJ: 2x Platinum
2
2004Exodus
 
Phát hành dưới tên Utada
 
Phát hành: 08/09, 2004 (JP), 05/10/ 2004 (US)
 
Hãng: Island Def Jam
Worldwide sales: 1,300,000
 
Chứng nhận RIAJ: Triệu
1 160 1 1 1
2009This Is the One
 
Phát hành dưới tên Utada
 
Phát hành: 14/03/ 2009 (JP), 12/05, 2009 (US)
 
Hãng: Island Def Jam
Worldwide sales: 300,000
 
Chứng nhận RIAJ: Platinum
3 69 2




Album tổng hợp



NămTựa đềLượng bán chứng nhậnVị trí bảng xếp hạng
JPNTWNHKSIN
2004Utada Hikaru Single Collection Vol. 1
 
Phát hành: March 31, 2004
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 2,602,391
 
RIAJ: 3,000,000
1 1 1 1
2010Utada Hikaru Single Collection Vol. 2
 
Phát hành: 24/11, 2010
 
Hãng: EMI Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 500,000*
 
Worldwide sales:
 
RIAJ: 2x Platinum
1---
Utada the Best
 
Phát hành: November 24, 2010
 
Hãng: Universal Music Japan
Lượng bán Nhật Bản: 20,000
 
Worldwide sales:
12---


Album U3



NămTựa đề
1993Star
 
Phát hành: September 17, 1993
 
Độ dài: N/A
 
Vị trí tuần Oricon: N/A
 
Ngôn ngữ: Japanese
2003Are Kara 10 Nen Kinen Ban
 
Phát hành: June 21, 2003
 
Length: N/A
 
Vị trí tuần Oricon: N/A
 
Ngôn ngữ: Japanese




Singles






Single Nhật Bản




NămTựa đềLượng bán
Ra mắtCuối cùng
1998"Automatic/Time Will Tell" - 8 cm17,990 772,080
"Automatic/Time Will Tell" - 12 cm24,2201,290,700
1999"Movin' on Without You" - 8 cm101,360346,820
"Movin' on Without You" - 12 cm 372,170 879,760
"First Love" - 8 cm68,040 303,430
"First Love" - 12 cm 196,850 500,890
"Addicted to You"1,067,510 1,784,050
"Wait & See (Risk)" 804,570 1,662,060
2000"For You/Time Limit"451,640909,000
2000Can You Keep a Secret?"783,620 1,484,940
"Final Distance"225,860 582,120
"Traveling"277,100 856,140
2002"Hikari"270,370598,130
"Sakura Drops/Letters"400,390686,720
2003"Colors"437,903 893,790
2004"Dareka no Negai ga Kanau Koro"150,020 365,206
2005 "Be My Last"80,064 150,928
"Passion"49,242 112,345
2006"Keep Tryin'"70,147135,077
"This Is Love"
"Boku wa Kuma"39,715 147,041
2007"Flavor of Life"270,605670,510
"Beautiful World/Kiss & Cry"93,518 245,050
2008"Heart Station/Stay Gold"48,430100,000
"Fight the Blues"
"Prisoner of Love"38,902 100,000
"Eternally (Drama Mix)"
2009 "Beautiful World (Planitb Acoustica Mix)"
2010"Hymne à l'amour (Ai no Anthem)"
"Goodbye Happiness"




Single tiếng Anh

Năm phát hànhTựa đề
1997"I'll Be Stronger"
"Close to You"
2000 "Remix: Fly Me to the Moon"
2004"Easy Breezy"
"Devil Inside"
2005"Exodus '04"
"You Make Me Want to Be a Man"
2007"Do You"
2009Come Back to Me"
"Sanctuary"
"Dirty Desire"


Single U3

Số phát hànhThông tin
1st "Rainy Day"
 
Phát hành: 1995
2nd"New Life"
 
Phát hành: 1995
3rd"Tsumetai Tsuki: Nakanaide"
 
Phát hành: 1996
4thThank You"
 
Phát hành: 1999
5th Golden Era"
 
Phát hành: 1999
6th"Kodomo-tachi no Uta ga Kikoeru"
 
Phát hành: 2003
7th"9 Sai No omoide"
 
Phát hành: 2009
 
Bao gồm single "Kodomo-tachi no Uta ga Kikoeru" và "Thank You"






VHS / DVD and Blu-ray


  1. Utada Hikaru Single Clip Collection Vol.1 – 12/12/1999

  2. Bohemian Summer 2000 – 19/12/2000

  3. Utada Hikaru Single Clip Collection Vol.2 – 27/12/2001

  4. Utada Hikaru Unplugged – 11/11/2001

  5. Utada Hikaru Single Clip Collection Vol.3+ - 30/09/2002

  6. UH Live Streaming 20Dai wa Ike Ike! – 29/03/2003

  7. Utada Hikaru in Budokan 2004: Hikaru no 5 – 28/07/2004

  8. Utada Hikaru Single Clip Collection Vol.4 – 27/09/2006

  9. Utada United 2006 – 20/12/2006

  10. Wild Life: Live at the Yokohama Arena 2010 – 06/04/2011


DVD Single


  1. Wait & See: Risk – 30/06/2000

  2. Traveling – 30/01/2002

  3. Colors – 12/03/2003

  4. Dareka no Negai ga Kanau Koro – 28/07/2004

  5. Easy Breezy – 03/08/2004


Những tác phẩm khác






Những bản thu âm khác


  • Colors (Godson Mix) – Sử dụng cho CM Toyota Wish năm 2004. Nó không được phát hành thương mại

  • Hikari - Kingdom Hearts Game (Tựa đề ca khúc tiếng Nhật cho game)

  • Simple and Clean - Kingdom Hearts Game (Tựa đề ca khúc tiếng Anh cho game)

  • Passion - Kingdom Hearts II Game (Tựa đề ca khúc tiếng Nhật cho game)

  • Sanctuary - Kingdom Hearts II Game (Tựa đề ca khúc tiếng Anh cho game)

  • Blow My Whistle feat. Foxy Brown - Rush Hour 2 soundtrack (Sản xuất bởi the Neptunes)

Những ca khúc hợp tác với các nghệ sĩ khác


  1. Nhật bản
    • Beautiful Drivin' Classic — Wish (06/11/200303)

    • One Night Magic - Yamada Masashi (12/2006) (Ultra Blue)


  2. Tiếng Anh
    • I Won't Last a Day Without You (hợp tác cùng Shiina Ringo, nguyên tác của The Carpenters)

    • Blow My Whistle (featuring Foxy Brown) —Rush Hour 2 soundtrack (31/07/2001)

    • By Your Side (featuring Kiley Dean) — Unity: Official Athens 2004 Olympic Games (27/07/2004)





Các ca khúc khác
  • Sukiyaki—Không phải cover ca khúc Sukiyaki của Kyu Sakamoto. " Đây chỉ là phiên bản demo cho hãng thu âm của cô, Toshiba-EMI và chưa bao giờ được phát hành ra công chúng.

  • Save the Best for Last—cô hát phần điệp khúc của ca khúc này vào sinh nhật lần thứ 20 của mình.

  • I Love You—trong tour Bohemian Summer 2000, cover từ "I Love You" của Yutaka Ozaki để tưởng nhớ ông.

  • Living on My Own-- trong tour Bohemian Summer 2000, cover lại ca khúc "Living on My Own" của Freddie Mercury.

  • Take on Me-- trong tour Bohemian Summer 2000, cover lại bài "Take on Me" của A-Ha

  • With or Without You-- cover "With or Without You" của U2 trên MTV Unplugged.

  • Playback part 2—Bản cover lại một ca khúc nổi tiếng của huyền thoại ca sĩ, thần tượng, diễn viên Nhật Bản Momoe Yamaguchi và cũng biểu diễn trong tour Bohemian Summer 2000.

  • Boulevard of Broken Dreams—Cover ca khúc Boulevard of Broken Dream của Green Day cùng với Passion vào giáng sinh năm 2005. Nó có mặt download trên internet trong một thời gian ngắn.

  • Let It Snow—30/11/2009, tại Studio Coast, Tokyo, Mika đã hát Let It Snow' song ca cùng Utada.

  • The Bitter End – Trong tour Utada: In The Flesh 2010, Utada đã hát một đoạn cover lại bài The Bitter End của Placebo, vào mỗi ngày diễn tour.

  • Across the Universe – tại WILD LIFE concerts, Utada đã hát phần cover của ca khúc Across the Universe của The Beatles, tự mình đánh ghita.


Lượng bán Physical qua các năm (chỉ ở Nhật Bản)




NămLượng bán
199810,062,780
1999 1,465,165
2000 1,550,710
2001 5,392,335
2002 4,889,438
2003 8,112,790
2004 1,023,809
2005 773,323
2006 1,181,231
2007 1,885,560
2008 961,418
2009 234,547
2010 500,000*
Total 38,272,698







Scheherazade
Scheherazade

Total posts : 262

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum