[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu)

Go down

[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) Empty [Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu)

Post by Scheherazade on Sun Nov 16, 2014 8:05 pm

Mariah Carey




[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) MariahGMA_zpsee97e282



Lý lịch trích ngang

Ngày sinh: 27 tháng 3 năm 1970 (tuổi 43) tại Huntington, New York, Hoa Kỳ

Thể loại: R&B, pop, hip hop, soul, dance

Nghề nghiệp: Ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, diễn viên, nhà từ thiện

Nhạc cụ: giọng hát, piano

Năm hoạt động: từ 1986 đến nay

Hãng đĩa: CBS, Columbia, Virgin, Island

Cộng tác hoạt động: Brenda K. Starr, Trey Lorenz, Knoc-turn'al, Allure, Da Brat, Boyz II Men, Whitney Houston, Jermaine Dupri, Bone Thugs N Harmony, Ne-Yo, Miguel

Website: mariahcarey.com


Mariah Carey (sinh ngày 27 tháng 3 năm 1970) là một nữ ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, diễn viên và nhà từ thiện người Mỹ. Dưới sự dìu dắt của giám đốc hãng Columbia Records, Tommy Mottola, Carey đã phát hành album phòng thu ra mắt mang tên cô Mariah Carey vào năm 1990. Album đã tậu về nhiều danh hiệu đĩa bạch kim và liên tiếp bốn lần được xếp ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ. Sau khi kết hôn với Mottola năm 1993 cùng sự thành công gặt hái trong các bản thu đình đám Emotions (1991), Music Box (1993), và Merry Christmas (1994), Carey trở thành nghệ sĩ đắt khách nhất Columbia. Daydream (1995) đã đi vào lịch sử ngành âm nhạc khi đĩa đơn thứ hai "One Sweet Day", bản song ca với Boyz II Men, giữ vững vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong thời gian kỉ lục 16 tuần và trở thành đĩa đơn được xếp hạng một lâu nhất trong lịch sử trên bảng xếp hạng của Mỹ. Trong giai đoạn này, Carey dần chuyển từ dòng nhạc R&B và pop ban đầu sang thể loại hip hop. Sự thay đổi giai điệu này càng trở nên rõ ràng hơn khi Butterfly (1997) được phát hành, đây cũng là thời điểm Carey và Mottola chia tay



Carey rời Columbia vào năm 2000, và ký một bản hợp đồng thu âm trị giá 100 triệu đô la với hãng Virgin Records. Trước khi bộ phim đầu tiên với sự góp mặt của cô, Glitter được ra mắt, Carey đã phải trải qua những suy sụp nặng nề về thể chất lẫn tinh thần và phải nhập viện vì kiệt sức. Do doanh thu ít ỏi mà bộ phim đem lại, hãng đĩa trả cho cô 50 triệu đô la và cắt bỏ hợp đồng thu âm với Carey, sự nghiệp của cô bắt đầu tụt dốc. Cô đã ký một hợp đồng trị giá nhiều triệu đô la với hãng Island Records năm 2002, và sau khoảng thời gian thất bại, cô trở lại vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng âm nhạc với The Emancipation of Mimi (2005). Trong đó, đĩa đơn "We Belong Together" trở thành đĩa đơn thành công nhất của thập niên 2000 và sau đó được Billboard đặt cho cái tên "Song of the Decade" (Ca khúc của thập kỉ). Carey một lần nữa thử sức trong lĩnh vực điện ảnh với vai diễn được đánh giá cao trong Precious (2009); cô được trao giải thưởng "Breakthrough Performance Award" tại Palm Springs International Film Festival, cùng nhiều đề cử trong Black Reel và NAACP Image Award.



Trong sự nghiệp kéo dài hai thập kỉ, Carey đã bán ra hơn 200 triệu bản thu trên toàn thê giới, giúp cô trở thành nghệ sĩ ăn khách nhất mọi thời đại. Vào năm 1998, cô được vinh danh là nghệ sĩ có doanh thu cao nhất thập niên 1990 tại World Music Awards. Carey đồng thời cũng được đặt cho danh hiệu nữ nghệ sĩ ăn khách nhất thiên niên kỉ vào năm 2000. Theo Hiệp Hội Công Nghiệp Ghi Âm Hoa Kỳ, cô xếp vị trí thứ ba trong số những nữ nghệ sĩ có doanh thu cao nhất nước Mỹ với 63.5 triệu album được chứng nhận. Với sự ra mắt của "Touch My Body" (2008), Carey mang về danh hiệu đĩa đơn thứ tám được xếp ở vị trí quán quân tại Mỹ, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ solo nào. Vào năm 2012, Carey được xếp ở vị trí số ba trong danh sách "100 Greatest Women in Music" (100 phụ nữ vĩ đại nhất ngành âm nhạc) của VH1. Bên cạnh những thành quả gặt hái trong mặt doanh thu, Carey còn nhận được 5 giải Grammy, 17 giải tại World Music Awards, 11 giải American Music, và 31 giải Billboard Music. Được sách kỉ lục Gunness thế giới công nhận là “chim sơn ca tuyệt đỉnh”, cô nổi tiếng với năm quãng tám hát theo âm vực, cường độ, các quãng luyến và việc sử dụng quãng âm cao nhất



1969-1987: Cuộc đời và những đấu tranh



Mariah Carey được sinh ra ở Long Island, thuộc thị trấn Huntington, New York. Cha cô, Alfred Roy, là người Mỹ gốc Phi và Venezuela (gồm Phi-Venezuela), trong khi mẹ cô, Patricia (nhũ danh Hickey), là người da trắng gốc Ailen. Họ Carey là kết quả của việc đổi tên bởi ông nội người Venezuela của cô, Francisco Nuñez, sau khi di cư đến New York. Cha Patricia đã qua đời khi bà còn nhỏ; tuy nhiên, bà được thừa hưởng niềm đam mê âm nhạc của ông, bà đã phát triển sự nghiệp là một ca sĩ opera và huấn luyện viên thanh nhạc, và gặp Alfred vào năm 1960. Khi ông bắt đầu kiếm sống bằng nghề kỹ sư hàng không, 2 người đã kết hôn 1 năm sau đó, và chuyển vào một vùng ngoại ô nhỏ ở New York. Sau khi cả 2 bỏ trốn, gia đình Patricia đã chối bỏ bà, do kết hôn với một người đàn ông da màu. Carey sau đó giải thích rằng khi lớn lên, cô cảm thấy sự bỏ rơi từ nhà ngoại, điều này ảnh hưởng đến cô rất nhiều: "Vì vậy, sau đó tôi đã như thế này, 'Vậy, điều đó khiến tôi trở thành người ra sao? Liệu tôi có phải là một người xấu?' Bạn biết đấy. Người đa sắc tộc không phổ biến, nhưng tôi hài lòng với sự kết hợp của những điều mà tôi có". Trong khoảng thời gian các năm giữa lúc sinh chị Carey Alison và cô, gia đình Carey đã trải qua cuộc đấu tranh cá nhân trong cộng đồng do chủng tộc của họ. Tên Carey bắt nguồn từ bài hát "They call the Wind Mariah", có nguồn gốc từ vở nhạc kịch Broadway "Paint Your Wagon" năm 1951 . Khi Carey ba tuổi, cha mẹ cô ly dị do cuộc hôn nhân giữa họ ngày càng căng thẳng.



Sau khi chia tay, Alison chuyển đến sống với cha của mình, trong khi hai đứa trẻ khác ở lại với người mẹ. Nhiều năm trôi qua, Carey lớn lên xa cha, và sau đó hoàn toàn không gặp ông. Vào năm 4 tuổi, Carey bắt đầu giấu đài radio dưới chăn của mình vào buổi tối, cô chỉ có thể cất tiếng hát từ sâu thẳm trong tim, cố gắng và tìm kiếm sự bình yên trong âm nhạc. Trong suốt quãng thời gian ở trường tiểu học, cô tỏ ra vượt trội hơn những đứa trẻ khác ở các môn học mà mình thích như văn học, hội họa và âm nhạc trong khi lại chẳng có mấy hứng thứ với các môn còn lại. Sau khi vật lộn với một vài khó khăn về mặt kinh tế, Patricia đã kiếm đủ tiền cho gia đình mình chuyển tới sống ở một nơi ổn định và giàu có hơn ở New York. Carey bắt đầu làm thơ và thêm những giai điệu vào đó, cứ như thế, cô đã trở thành một ca sĩ kiêm nhạc sĩ khi đi học tại trường Harborfields High School ở Greenlawn, New York. Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng Carey đã tỏ ra rất xuất sắc trong khoản âm nhạc, sử dụng được quãng âm cao nhất trong giọng hát, dù chỉ mới bắt đầu thông thạo và học cách điều khiển nó trong các buổi luyện tập với mẹ cô. Mặc dù đưa con gái mình đến thế giới nhạc cổ điển, Patricia chưa bao giờ bắt ép con gái mình phải đi theo con đường này bởi cô chưa từng cảm thấy hứng thú với thế giói âm nhạc ấy. Carey nhớ rằng cô phải giữ bí mật về công việc ca hát và sáng tác của mình, bởi Patricia “không phải một người mẹ thúc ép con cái. Bà ấy chưa bao giờ nói rằng ‘Hãy cảm nhận về opera nhiều hơn’. Tôi tôn thờ opera như kẻ điên, nhưng nó lại chẳng ảnh hưởng gì đến tôi cả”.



Khi đang là một học sinh cấp 3, Carey nảy sinh mối quan hệ với Gavin Christopher, người đã cùng cô sẻ chia những khao khát trong âm nhạc. Bộ đôi nhạc sĩ này cần một trợ lý có thể chơi được đàn phím: “Chúng tôi đã gọi cho một người nào đó và anh ấy đã không thể đến, vì thế tình cờ chúng tôi đã gặp được Ben [Margulies]. Ben đã đến phòng thu và thật sự anh ấy chơi đàn phím không tốt lắm – anh ấy giống một người gõ trống hơn – nhưng sau ngày hôm ấy, chúng tôi bắt đầu giữ liên lạc và cùng nhau cố gắng trở thành những nhạc sĩ.” Carey và Christopher bắt đầu sáng tác các ca khúc dưới tầng hầm tại cửa hiệu của cha cô trong suốt những năm cuối trung học. Sau khi cùng nhau sáng tác được bài hát đầu tiên, "Here We Go Round Again", được Carey mô tả là mang âm hưởng của Motown, họ tiếp tục cùng nhau sáng tác nguyên một bản thu thử với độ dài chuẩn. Cô bắt đầu sống ở một phòng ngủ kiêm phòng thu ở Manhattan, nơi cô chia sẻ căn phòng cùng với 4 học sinh khác. Trong suốt quãng thời gian này, Carey đã làm bồi bàn cho nhiều nhà hàng, thường bị sa thải sau hai tuần làm việc. Dù cần làm việc liên tiếp để kiếm thu nhập trả tiền nhà, nhưng những mục tiêu âm nhạc vẫn còn tồn tại trong tâm trí và nỗ lực của Carey khi cô bắt đầu làm việc vào buổi tối muộn cùng Margulies, trong niềm hy vọng rằng có thể hoàn thành được một bản thu mẫu lọt được vào mắt xanh của giám đốc các hãng thu âm. Sau khi hoàn thành bản thu mẫu cho 4 ca khúc của mình, Carey cố gắng nộp nó cho các công ty, nhưng lúc nào cũng thất bại. Một thời gian ngắn sau đó, cô được giới thiệu với ca sĩ nhạc pop mới nổi Brenda K. Starr.



1988–92: Lần đầu ra mắt bản thu và những khởi đầu trong sự nghiệp



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 170px-Mariah_Carey_1990_zps3dc4b030


Khi tình bạn giữa Carey và Starr phát triển, bà rất muốn giúp đỡ Carey để cô thành công trong ngành công nghiệp (âm nhạc). Vào một đêm thứ sáu, tháng 12 năm 1988, Carey theo Starr đến một buổi tiệc của giám đốc các hãng thu âm, nơi cô nộp bản thu mẫu của mình cho Tommy Mottola, ông chủ hãng đĩa Columbia Records, người đã lắng nghe nó trên đường về nhà. Sau hai ca khúc đầu tiên, anh đã bị ấn tượng bởi âm thanh và chất lượng trong giọng hát của Carey đến nỗi anh phải quay trở lại sự kiện chỉ để tìm gặp cô nhưng cô đã rời đi trước đó. Được nhiều nhà phê bình mô tả như câu chuyện lọ lem thời hiện đại, sau khi tìm kiếm Carey trong hai tuần, và cuối cùng liên lạc được với cô thông qua quản lí của Star, anh lập tức ký hợp đồng với cô và bắt đầu vạch ra chiến lược ra mắt của cô trước xu thế âm nhạc hiện nay. Trong khi cô vẫn tỏ ý muốn tiếp tục làm việc với Margulies, Mottola mời những nhà sản xuất hàng đầu, bao gồm Ric Wake, Narada Michael Walden và Rhett Lawrence. Mottola cùng đội ngũ nhân viên của hãng Columbia đã lập kế hoạch quảng bá cho Carey là nữ nghệ sĩ nhạc pop chính mà họ có, cạnh tranh với những nghệ sĩ như Whitney Houston và Madonna, những người lần lượt đã ký hợp đồng với hãng Arista và Sire Records. Sau khi hoàn thành album ra mắt của cô, Columbia chi ra hơn 1 triệu đô la để quảng bá nó. Mặc dù khởi đầu với doanh thu thấp, album cuối cùng cũng leo lên được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200, sau bài giới thiệu của Carey tại Lễ trao giải Grammy Awards thường niên lần thứ 33. Album Mariah Carey trụ vững tại vị trí quán quân trong 11 tuần liên tiếp, cô cũng đã thắng giải "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" và "Nữ ca sĩ nhạc pop có giọng ca hay nhất" cho đĩa đơn "Vision of Love". Album còn mang lại thêm ba đĩa đơn được xếp hạng một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, sau khi "Vision of Love" nằm ở vị trí quán quân trong 4 tuần. Carey trở thành nghệ sĩ đầu tiên từ sau The Jackson 5 sở hữu 4 đĩa đơn đầu tay chạm tới vị trí số một. Mariah Carey kết thúc với danh hiệu album có doanh thu khủng nhất ở Hoa Kỳ năm 1991, với hơn 15 triệu bản được bán ra.



Carey bắt đầu việc thu âm cho album phòng thu thứ hai của cô với tên gọi là Emotions, vào năm 1991. Album, theo như Carey mô tả, đã thể hiện sự tôn kính đối với dòng nhạc soul Motown, bởi cô cảm thấy mình cần tỏ lòng tôn kính đối với thể loại âm nhạc này vì nó thực sự đã có nhiều ảnh hưởng đối với Carey khi cô còn là một đứa trẻ đang phải vật lộn với cuộc sống. Trong dự án, Carey đã làm việc với Walter Afanasieff, người chỉ đóng góp một vai trò nhỏ trong việc ra mắt của cô, cũng như Clivillés và Cole, từ nhóm nhảy C+C Music Factory. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Carey và Margulies lại trở nên xấu đi vì bản hợp đồng cô mà cô kí kết trước khi gia nhập Columbia, khi đó Carey đã đồng ý chia cho nhạc sĩ không những doanh thu từ việc sáng tác ca khúc mà còn một nửa lợi nhuận mà cô kiếm được. Tuy nhiên, đến lúc sáng tác nhạc cho Emotions, hãng Sony đã làm rõ sự việc rằng anh sẽ chỉ được trả một khoảng công bằng với những người đồng sáng tác khác trong một album. Sau đó, Margulies đã trình đơn kiện Sony, điều này cuối cùng dẫn đến việc họ đường ai nấy đi. Vào ngày 17 tháng 9 năm 1991, Emotions ra mắt trên khắp thế giới, được đón nhận bởi giới phê bình là một tác phẩm hoàn thiện hơn album trước đó. Trong khi khả năng sáng tác được cải thiện của Carey, công việc sản xuất và phong cách âm nhạc mới được tán dương, album lại bị đem ra chỉ trích vì những ca khúc của nó, nhiều người cho rằng chúng kém hơn lần ra mắt của cô. Mặc dù doanh số bán ra trên toàn cầu đạt hơn 8 triệu bản, Emotions lại kém hơn về mặt doanh thu và những thành công vang dội như album trước nó.



Cũng giống như lần cô vừa ra mắt, các nhà phê bình một lần nữa đặt ra câu hỏi liệu Carey sẽ bắt tay vào việc tổ chức một chuyến lưu diễn trên toàn thế giới để quảng bá cho các ca khúc của mình. Mặc dù Carey đã giải thích rằng vì cô rất sợ sân khấu và nhìn chung những ca khúc của cô rất khó hát, một chuyến lưu diễn có thể làm cô nhụt chí, lời đồn thổi cứ lớn dần lên rằng Carey là một “con sâu phòng thu”, rằng cô không có khả năng hát những âm cao hoàn hảo cũng như 5 quãng tám đã nói trước đó. Với hy vọng có thể dập tắt những lời tuyên bố rằng Carey là một nghệ sĩ giả tạo, cô cùng Walter Afanasieff đã quyết định đăng ký xuất hiện trên MTV Unplugged, một kênh truyền hình được lên sóng bởi MTV. Mục đích của chương trình là để giới thiệu các nghệ sĩ và cho họ trình diễn mà không có sự trợ giúp của máy móc hay các thiết bị phòng thu. Trong khi Carey có niềm tin mạnh mẽ vào những ca khúc sâu sắc và mãnh liệt của mình, cô lại bị buộc phải hát những ca khúc thành công nhất của mình ở thời điểm đó. Vài ngày trước khi chương trình được ghi hình, Carey và Afanasieff đã nghĩ đến việc thêm một bản cover của một bài hát cũ để tạo sự bất ngờ và mới lạ. Họ đã chọn "I'll Be There", một ca khúc nổi tiếng của The Jackson 5 năm 1970, diễn tập nó một vài lần trước chương trình. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1992, Carey thu âm bản nhạc gồm 7 ca khúc tại Kaufman Astoria Studios thuộc Queens, New York. Vở hòa nhạc này đã nhận được sự hoan nghênh từ giới phê bình, điều đó dẫn đến việc nó được lên sóng nhiều hơn gấp ba lần một tập trung bình. Thành công của vở kịch đã lôi cuốn hãng Sony chuyển nó thành album. Sony quyết định sẽ ra mắt nó dưới dạng EP và bán với giá giảm vì thời lượng đã được cắt bớt. Bản EP được cho là đã gặt hái thành công, trái với suy nghĩ của các nhà phê bình cũng như những lời tiên đoán rằng Carey chỉ là một nghệ sĩ trong phòng thu, và được trao tặng danh hiệu đĩa bạch kim 3 lần bởi Recording Industry Association of America (RIAA), cùng danh hiệu đĩa vàng và đĩa bạch kim tại một số thị trường ở châu Âu.



1993-96: Cuộc hôn nhân đầu tiên, Music Box và Daydream



Trong suốt khoảng thời gian đầu năm 1993, Carey bắt đầu thực hiện album phòng thu thứ 3 của cô, Music Box. Sau thất bại về mặt doanh thu của (album) Emotions so với album ra mắt, Carey và Columbia đều nhất trí rằng album tiếp theo sẽ theo hơi hướng pop nhiều hơn. Trong quá trình sáng tác, Carey bắt đầu làm việc chủ yếu với Anfanaieff, người viết hầu hết các ca khúc trong Music Box. Ở giai đoạn thu âm, Carey và Mottola trở thành người yêu của nhau. Họ kết hôn với nhau trong một buổi lễ xa hoa vào ngày 5 tháng 6 năm 1993 với sự góp mặt của một vài nhân vật danh tiếng bao gồm Barbra Streisand, Billy Joel, Gloria Estefan và Ozzy Osbourne. Vào ngày 31 tháng 8, Music Box được phát hành toàn cầu, ra mắt khán giả ở vị trí số 1 bảng xếp hạng Billboard 200. Album đã đón nhận nhiều ý kiến trái chiều từ giới phê bình âm nhạc. Trong khi nhiều người tán dương sự ảnh hưởng của chất pop và nội dung lời bài hát sâu sắc, một số khác cảm thấy Carey chưa tận dụng được quãng giọng đáng khen của mình. Ronwynn đến từ (tạp chí) Allmusic miêu tả sự thay đổi cách ca hát của Carey trong album rằng: "Carey thật sáng suốt khi thể hiện nhiều yếu tố khác nhau trong cách tiếp cận âm nhạc của mình, nhưng đôi khi sự nhiệt tình thái quá (trong lối hát cũ) lại được ưa thích hơn là thiếu đi đam mê". Đĩa đơn thứ 2 trong album, Hero, sau này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng và truyền cảm hứng nhất trong sự nghiệp của Carey. Bài hát giúp Carey trở thành quán quân lần thứ 8 trên bảng xếp hạng của Mỹ, đồng thời lan rộng sự nổi tiếng của cô sang khắp châu Âu. Cùng với việc phát hành đĩa đơn thứ 3 trong album, Carey đã đạt được một số cột mốc quan trong trong sự nghiệp. Bản cover lại bài hát Without You của (ban nhạc) Badfinger trở thành đĩa đơn số 1 đầu tiên của cô ở Đức, Thụy Điển và Anh.



Music Box tiếp tục nối dài khoảng thời gian nằm ở vị trí số 1 của mình trên các bảng xếp hạng của các quốc gia khác, và cuối cùng trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại, với doanh số bán ra trên toàn thế giới là 32 triệu bản. Sau khi từ chối lưu diễn 2 album trước đó của mình, Carey đã đồng ý bắt tay tham gia một chuỗi ngắn các buổi hòa nhạc trong nước (Mỹ), đặt cùng tên với album đầu tiên. Hành trình chỉ trong vòng 6 ngày xuyên suốt Bắc Mỹ tuy ngắn ngủi nhưng thành công ngoài mong đợi là một bước tiến lớn cho cô gái e sợ sự phiền toái của việc lưu diễn như Carey. Tiếp sau ‘Music Box’, Carey biến mất khỏi công chúng trong 1 khoảng thời gian khá dài để thực hiên một dự án bí mật suốt năm 1994. Dự án trên được giữ kín cho đến khi Billboard thông báo trên ấn phẩm tháng 10 rằng Carey sẽ phát hành 1 album mừng dịp lễ vào khoảng năm sau. Cuối năm 1994, Carey thu âm 1 bản hòa tấu với Luther Vandross, thể hiện lại bài hát Endless Love của Lionel Richie và Diana Ross. Tại thời điểm đó, Columbia cảm thấy Carey đã xây dựng hình tượng bản thân trở thành 1 ca sĩ hát nhạc pop thực thụ nhưng công ty vẫn cố gắng đưa cô trở thành một hình tượng mang tính giải trí âm nhạc đến cho người nghe nhiều hơn. Qua dịp phát hành album Merry Christmas, Columbia hy vọng khán giả sẽ tìm đến sản phẩm của Carey chỉ qua tên tuổi và danh tiếng của cô, xóa bỏ lo ngại cô sẽ trở thành 1 ca sĩ nhạc pop điển hình. Album ra mắt vào ngày 1 tháng 11 năm 1994, cùng thời điểm với đĩa đơn All I Want for Christmas Is You, ca khúc thứ 1 trong album. Album sau đó đã trở thành album bán chạy nhất vào dịp Giáng sinh của mọi thời đại với 15 triệu bản bán ra trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, All I Want for Christmas Is You nhận nhiều lời tán dương nhiệt tình, được xem như “một trong số ít những sự bổ sung hiện đại xứng đáng vào truyền thống của ngày lễ’’. Tạp chí Rolling Stone miêu tả bài hát như ‘yếu tố phải có trong ngày lễ’, và đặt cho nó vị trí số 4 trong danh sách Greatest Rock and Roll Christmas Songs. Về mặt doanh thu, nó trở thành nhạc chuông cho ngày lễ đắt hàng nhất mọi thời đại, đĩa đơn của nghệ sĩ phương Tây thịnh hành nhất tại Nhật Bản, bán ra hơn 2,1 triệu bản (tính cả đặt làm nhạc chuông và tải bản nghe kĩ thuật số). Kết thúc mùa lễ hội năm 1994, Carey và Afanasieff đã chuẩn bị cho việc sáng tác album phòng thu thứ 3 để ra mắt vào mùa thu năm sau.



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 250px-Mariah_Carey_One_Sweet_Day_Madison_Square_1995_zps1ef8f34e


Phát hành vào ngày 3 tháng 10 năm 1995, Album “Daydream” là sự kết hợp dòng nhạc pop của Music Box với giai điệu R&B và cả sự ảnh hưởng từ hip hop. Đĩa đơn thứ hai của album, "One Sweet Day" được lấy cảm hứng từ cái chết của David Cole, cũng như chị gái Alison của cô, người đã mắc bệnh AIDS. Ca khúc tiếp tục được xếp vị trí quán quân trên Hot 100 trong thời gian kỉ lục mười sáu tuần, trở thành bài hát được xếp hạng một lâu nhất trong lịch sử ngành âm nhạc thời đó. Daydream là album bán chạy nhất của cô ở Hoa Kỳ, và trở thành album thứ hai được trao tặng danh hiệu đĩa Kim cương của RIAA, cùng với Music Box. Một lần nữa nó trở thành album của nghệ sĩ nước ngoài bán chạy nhất trên thị trường Nhật Bản, tiêu thụ tới hơn 2.2 triệu bản sao, và cuối cùng đạt đến doanh thu toàn cầu hơn 25 triệu bản. Theo giới chuyên môn, album được báo trước là bản thu tốt nhất của Carey cho đến nay. Thời báo New York đã xem nó như một trong những album hay nhất của năm 1995, và viết, "Những ca khúc hay nhất mang lại giai điệu ngọt ngào của dòng nhạc đậm chất R&B và nâng chúng đến một tầm cao mới…Khả năng sáng tác của Carey càng ngày vượt trội hơn, mang những giai điệu thư thái, hấp dẫn và càng ít phụ thuộc nhiều vào những ca từ thô bạo một cách vô nghĩa." Carey một lần nữa đã quyết định bắt đầu chuyến lưu diễn ngắn vòng quanh thế giới tên gọi Daydream World Tour gồm bảy buổi diễn, ba ở Nhật và bốn xung quanh Châu Âu. Khi vé được bán ra, Carey đã xác lập kỉ lục khi cả 150,000 vé cho ba buổi biểu diễn của cô tại sân vận động lớn nhất của Nhật Bản, Tokyo Dome bán hết trong vòng chưa tới ba tiếng đồng hồ, phá kỉ lục trước đây thuộc về ban nhạc The Rolling Stones. Vì thành công của album, Carey đoạt hai giải thưởng tại American Music Awards trong hạng mục độc tấu, bao gồm: Favorite Pop/Rock Female Artist (Nữ nghệ sĩ nhạc Pop/Rock được Yêu thích nhất) và Favorite Soul/R&B Female Artist (Nữ nghệ sĩ nhạc Soul/R&B được Yêu thích nhất). Daydream và các đĩa đơn của nó lần lượt đã được đề cử trong sáu hạng mục tại Giải thưởng Grammy lần thứ 38. Carey, cùng với Boyz II Men, mở màn cho sự kiện trọng đại này với màn trình diễn "One Sweet Day". Tuy nhiên, Carey đã không được nhận giải thưởng nào. Điều này khiến cô phải phát biểu rằng "Bạn có thể làm được gì? Tôi sẽ không phải thất vọng một lần nào nữa. Sau khi tôi ngồi cho tới hết buổi biểu diễn và hoàn toàn không thắng một lần, giờ tôi có thể chịu được mọi thứ". Vào năm 1995, do doanh số đặt hàng khổng lồ của Daydream tại thị trường Nhật Bản, Billboard đã tuyên bố Carey là "Overseas Artist of the Year" ( Nghệ sĩ Quốc tế của năm) ở Nhật Bản.



1997-2000: Hình ảnh mới cùng sự độc lập, Album Butterfly và Rainbow

Sau khi phát hành Daydream và gặt hái được nhiều thành công, Carey bắt đầu tập trung vào đời tư của cô, đó là một sự nỗ lực không ngừng nghỉ vào lúc đó. Quan hệ của Carey với Mottola bắt đầu trở nên tệ đi, do sự khác biệt càng ngày càng lớn của hai người trong phong cách sáng tạo album, cũng như bản chất kiểm soát của Mottola đối với cô. Theo sau mỗi album được phát hành là thành công và danh tiếng, Carey bắt đầu chủ động, tự quản lý phong cách âm nhạc của mình hơn và áp dụng nhiều thể loại khác nhau vào việc ca hát. Giữa năm 1997, sự nghiệp của Carey tiến triển tốt đẹp, khi ấy cô đang sáng tác và thu âm cho album kế tiếp, Butterfly (1997). Cô tìm cách làm việc với các nhà sản xuất khác ngoài Afanasieff như Sean Combs, Kamaal Fareed, Missy Elliott, Jean Claude Oliver và Samuel Barnes của Trackmasters. Trong quá trình thu âm cho album, Carey và Mottola chia tay. Cô cho rằng đó là cách riêng của mình để được tự do và hưởng thụ luồng sống mới. Ngoài những ý kiến đánh giá khác nhau dành cho album, các nhà phê bình đã chú ý đến phong cách hát đang dần thay đổi của cô, được mô tả như nghe rõ cả tiếng thở trong giọng hát. Phong cách mới của cô gặp phải nhiều ý kiến trái chiều, một số nhà phê bình cho rằng đây là dấu hiệu của sự trưởng thành, rằng cô tự nhận thấy mình không phải lúc nào cũng cần phô diễn tông giọng cao, trong khi một số khác nhìn nhận đó là một kiểu của sự yếu ớt và giảm phong độ trong giọng hát của cô. Đĩa đơn đầu tiên của album, "Honey" cùng video ca nhạc của nó, giới thiệu một hình tượng mới nóng bỏng hơn nhiều so với những gì Carey từng thể hiện từ trước đến nay, bộc lộ rõ sự tự do sau khi thoát khỏi Mottola. Carey cho hay Butterfly đã đánh dấu một bước quan trọng trong việc thỏa sức sáng tạo và toàn quyền kiểm soát phong cách âm nhạc của mình. Tuy nhiên, cô còn nói thêm, "Tôi nghĩ nó chẳng khác mấy với những gì tôi đã làm trước kia… Không giống việc tôi tự nhiên phát điên và nghĩ mình trở thành một rapper. Cá nhân tôi nghĩ rằng album này đang làm được bất cứ thứ quái quỉ gì tôi muốn làm.” Khi sự khác biệt trong việc chế tác với nhà sản xuất Afanasieff ngày càng lớn và cuối cùng là chấm dứt quan hệ công việc sau khi cùng nhau cộng tác trên phần lớn các nhạc phẩm của Carey. Những ý kiến đánh giá về album Butterfly nhìn chung rất tích cực: Rolling Stone viết, "Không phải Carey hoàn toàn loại bỏ sự ngọt ngào cũ, các bản nhạc nhẹ đậm chất Houston… nhưng cảm xúc nổi bật trong 'Butterfly' là một khúc mơ màng gợi tình một cách lạnh lùng. (…ngoại trừ "Outside") Album nghe rất giống phong cách những năm 1997. Carey có thể giang cánh ra và đã sẵn sàng bay." Biên tập viên Allmusic, ông Stephen Thomas Erlewine mô tả giọng hát của Carey "mượt mà và kiểm soát hơn bao giờ hết" và dự báo Butterfly sẽ là “một trong những nhạc phẩm phòng thu tốt nhất của cô và mô tả rằng Carey vẫn đang tiếp tục cải thiện và trau chuốt cho âm nhạc của mình, làm cô trở nên danh giá hơn các ca sĩ cùng thời.” Album thành công về doanh thu, dù không bằng ba album trước đây của cô.



Hướng đến thiên niên kỉ mới, Carey bắt đầu phát triển các dự án khác, nhiều cái trong số đó cô đã từng không thể thực hiện được khi còn bị ràng buộc bởi hôn nhân. Vào ngày 14 tháng 4 năm 1998, Carey tham gia buổi hoà nhạc gây quỹ VH1 Divas, nơi cô hát cùng với Aretha Franklin, Celine Dion, Shania Twain, Gloria Estefan và Carole King. Carey đã bắt đầu phát triển dự án phim Al That Glitters, sau đổi tên lại cho đơn giản hơn là Glitter, và dự định sáng tác nhạc cho một số bộ phim như Men In Black (1997) và How the Grinch Stole Christmas (2000). Sau thất bại của bộ phim Glitter, Carey hoãn lại dự án, và bắt đầu viết nhạc cho album mới. Các nhà điều hành của Sony, công ty mẹ của Columbia mà Carey tham gia, muốn cô chuẩn bị bộ sưu tập những ca khúc đình đám nhất bán trong mùa nghỉ lễ. Tuy nhiên, họ không nhất quán về mặt nội dung cũng như các đĩa đơn trong album. Sony muốn phát hành một album bao gồm một trong những đĩa đơn đình đám nhất của cô ở Mỹ, và những album đứng đầu bảng xếp hạng quốc tế với phiên bản châu Âu, không bao gồm bất kỳ một ca khúc mới nào, trong khi Carey cảm thấy rằng album nên chứa đựng những ca khúc phản ánh cái tôi của cô chứ không phải những ca khúc bán chạy nhất. Cô nghĩ rằng việc không có những ca khúc mới chẳng khác nào là lừa đảo những người hâm mộ, vì thế album nên có bốn ca khúc mới mà cô đã thu âm. Trong khi thoả hiệp, Carey thường bày tỏ sự thất vọng khi chọn ca khúc cho album và thể hiện sự chán nản của cô khi các ca khúc yêu thích nhất đã bị gạch bỏ ra khỏi album. Album đặt tựa #1’s (1998), gồm bản song ca với Whitney Houston, "When You Believe", và được đưa vào nhạc nền cho phim The Prince of Egypt (1998). Trong quá trình phát triển All That Glitters, Carey đã được giới thiệu với Jeffrey Katzenberg, nhà sản xuất của Hãng phim DreamWorks, người đã ngỏ ý mời cô thu âm ca khúc "When You Believe" cho nhạc nền phim hoạt hình The Prince of Egypt. Trong cuộc phỏng vấn với Ebony, Houston đã mô tả quá trình làm việc với Carey, cũng như tình bạn nảy nở giữa họ: "Mariah và tôi phối hợp với nhau rất tuyệt. Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện cũng như hát chung với nhau trước đây. Chúng tôi chỉ có duy nhất một cơ hội cho tình bạn, như là ca sĩ với ca sĩ, nghệ sĩ với nghệ sĩ, đại loại thế. Chúng tôi chỉ cười và nói và lần nữa cười và nói và xem việc ca hát ở giữa. Thật là hiếm có khi hai quý bà của linh hồn và âm nhạc vẫn có thể là bạn của nhau." #1’s trở thành hiện tượng ở Nhật Bản, bán được hơn một triệu bản sao ngay trong tuần lễ đầu tiên, và cô được công nhận là nghệ sĩ quốc tế duy nhất có thể đạt đến mốc này. Khi mô tả sự nổi tiếng của Carey ở Nhật Bản trong suốt những năm 90, tác giả Chris Nickson đã so sánh nó với Beatlemania vào những năm 1960. Album bán được hơn 3.25 triệu bản ở Nhật chỉ sau ba tháng, và giữ kỉ lục album bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ không phải người Châu Á, trong khi doanh số bán ra trên toàn cầu là hơn 17 triệu bản.



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 170px-Mariah_Carey12_Edwards_Dec_1998_zps4946f375


Vào mùa xuân năm 1999, Carey bắt đầu sản xuất album cuối cùng trên hợp đồng của cô với Sony, hãng thu của chồng cũ cô. Trong thời gian này, quan hệ căng thẳng của Carey với Sony ảnh hưởng đến việc sáng tác của cô với Afanasieff, người đã làm việc rất lâu với Carey từ nửa đầu sự nghiệp của cô. Cô cảm thấy Mottola đang cố tách cô ra khỏi Afanasieff, với hy vọng làm cho mối quan hệ của họ trở nên căng thẳng hoàn toàn. Vì áp lực và quan hệ đang tệ đi giữa Carey với Sony, cô hoàn thành album trong ba tháng vào mùa hè năm 1999, nhanh hơn bất kì album nào trước kia của cô. Album, đặt tựa Rainbow (1999), một lần nữa cho thấy sự hợp tác của Carey với các nhà sản xuất và soạn nhạc mới, như Jay-Z và DJ Clue?. Carey cũng viết hai bản ballad với David Foster và Diane Warren, những người mà cô dường như làm việc cùng để thế chỗ cho Afanasieff. Rainbow được tung ra vào ngày 2 tháng 11 năm 1999, với doanh thu tuần đầu tiên cao nhất trong sự nghiệp của cô, tuy nhiên lại được xếp ở vị trí số hai trên Billboard 200. Vào đầu năm 2000, mối quan hệ phức tạp của Carey với Columbia phát triển, tại thời điểm họ dừng đợt quảng bá sau khi ra mắt hai đĩa đơn đầu tiên của album. Họ cảm thấy Rainbow dường như không có bất cứ đĩa đơn nào đủ nóng để được tung ra, trong khi Carey muốn những khúc ballad liên quan đến cái tôi và sức mạnh tinh thần của cô được phát hành. Sự khác biệt trong ý kiến đã dẫn đến những hiềm khích công khai khi Carey chia sẻ thông điệp trên trang web của cô vào nửa đầu năm 2000 cho những người hâm mộ biết tin tức nội bộ dẫn đến tranh chấp, cũng như dặn họ yêu cầu ca khúc "Can't Take That Away (Mariah's Theme)" trên đài phát thanh. Một trong những thông điệp Carey để lại trên trang của cô ấy: "Về cơ bản, nhiều người trong số các bạn đã biết tình trạng xung đột trong nghề nghiệp chuyên môn của tôi không được tích cực cho lắm. Nó thật sự, thật sự rất vất vả. Thậm chí tôi cũng không biết liệu các bạn có hiểu được thông điệp này bởi tôi không biết liệu họ có muốn các bạn nghe nó. Tôi vẫn đang nhận được rất nhiều ý kiến phản hồi tiêu cực từ một nhóm người chức quyền nào đó. Nhưng tôi không muốn chịu thua." Sợ để mất nhãn hiệu doanh thu cao nhất, Sony quyết định cho ra mắt ca khúc cô chọn làm đĩa đơn. Carey, ban đầu hài lòng với thoả thuận, nhưng không lâu sau đó, cô đã phát hiện ra ca khúc đã bị phát hành hạn chế và không được đẩy mạnh quảng bá khi ra mắt, điều này khiến thứ hạng trên các bảng xếp hạng vô cùng chật vật và bất ổn. Nhìn chung Rainbow được giới phê bình đón nhận rất nhiệt tình, tờ Sunday Herard nói rằng album như "chứng kiến cảnh cô ấy gây ấn tượng len lỏi vào giữa những bản soul ballad cùng sự cộng tác với các ca sĩ R&B kỳ cựu như Snoop Doggy Dogg và Usher[...] Nó hội tụ sự tinh tế của nhạc pop-soul." Tạp chí Vibe bày tỏ những ý kiến tương tự, viết rằng, "Cô ấy khiến mọi thứ như dừng lại [...] Rainbow thậm chí sẽ nhận được nhiều sự yêu mến hơn nữa.” Tuy đã đạt được những thành công về mặt doanh thu, Rainbow lại là album có doanh thu thấp nhất trong sự nghiệp của Carey cho tới thời điểm đó.



2001–04: Glitter, Charmbracelet; những nỗ lực trong đời tư và nghề nghiệp



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 170px-Mcla_re03_zps7468d6be


Sau khi nhận hai giải thưởng Nghệ sĩ của Thập Kỉ do Billboard trao tặng và giải World Music Award cho hạng mục Nữ Nghệ sĩ bán chạy nhất của Thiên niên kỉ, Carey rời Columbia và ký một bản hợp đồng thu âm có giá trị khổng lồ 100 triệu đô la cho 5 album với hãng Virgin Records (EMI Records). Carey được giao hoàn toàn việc thiết kế ý tưởng và thỏa sức sáng tạo trong dự án này. Cô quyết định thu âm một album được pha trộn một ít giữa giai điệu của các bản disco từ thập niên 1980 với những thể loại khác cho ăn nhập với chủ đề của bộ phim. Cô thường cho hay rằng Columbia từng xem cô là một kế chiêu dụ khách hàng, nhưng việc cô và Mottola tan vỡ đã làm mối quan hệ của cô với công ty xấu đi. Chỉ vài tháng sau đó, vào tháng 7 năm 2001, việc Carey đã phải trải qua những thương tổn về mặt thể chất và tinh thần được công bố rộng rãi. Trong thời gian đó, cô cũng đã đăng tải nhiều lời nhắn trên trang web của mình phàn nàn rằng cô đang phải làm việc quá sức và việc mối quan hệ giữa cô với nam thần tượng người Latin Luis Miguel đi đến kết thúc. Trong một cuộc phỏng vấn một năm sau đó, cô nói “Tôi đã phải ở với những người không thể hiểu nổi tôi và tôi cũng chẳng có lấy một trợ lý riêng nào. Tôi đã phải trả lời phỏng vấn cả ngày và chỉ được ngủ có hai tiếng mỗi đêm, nếu có." Do bị áp lực đè nặng từ các phương tiện truyền thông, lịch làm việc dày đặc cộng thêm việc mối tình với Miguel tan vỡ, Carey bắt đầu đăng tải những lời nhắn đáng lo ngại trên trang web chính thức của mình và hành xử thất thường trong các đợt quảng bá trực tiếp bên ngoài. Ngày 19 tháng 7 năm 2011, Carey bất ngờ xuất hiện trên chương trình Total Request Live (TRL) của MTV. Khi người dẫn chương trình Carson Daly bắt đầu ghi hình sau quảng cáo, Carey bước ra, đẩy theo một xe kem trong khi đang mặc một cái áo sơ mi nam rộng thùng thình và bắt đầu nhảy thoát y bằng cách cởi áo và để lộ bộ quần áo bó sát màu vàng và màu xanh. Tuy sau này cô tiết lộ rằng Daly nhận ra sự có mặt của cô trong tòa nhà trước cả khi cô bước ra, sự xuất hiện của Carey trên TRL nhận được sự chú ý mạnh mẽ của giới truyền thông. Chỉ vài ngày sau đó, Carey bắt đầu thỉnh thoảng đăng tải những đoạn ghi chú và tin nhắn bằng giọng nói trên trang web cá nhân của mình: “Giờ đây tôi đang cố gắng để hiểu chuyện đời và thế nên tôi không nghĩ là mình nên quay trở lại với âm nhạc ngay. Tôi chỉ muốn nghỉ ngơi một chút hay ít ra là một đêm ngon giấc mà không bị ai quấy rầy. Tôi chỉ mong được là chính mình và đó là điều mà lẽ ra tôi nên làm đầu tiên… Tôi sẽ không nói nhiều về điều này nhưng các bạn có biết, tôi không hề chăm sóc bản thân chút nào đâu.” Đoạn tin nhắn nhanh chóng được gỡ bỏ, nói về việc này, Berger cho rằng Carey “rõ ràng đã mệt mỏi và không suy nghĩ thông suốt” khi cho đăng tải những điều trên.



Vào ngày 26 tháng 7, cô bất ngờ phải nhập viện vì “quá kiệt sức” và “bị tổn thương về cả thể chất lẫn tinh thần”. Carey được đưa đến một bệnh viện tư ở Connecticut, và được điều trị tại bệnh viện dưới sự quan tâm chăm sóc của các bác sĩ trong 2 tuần, sau đó là một khoảng thời gian dài vắng mặt trước công chúng. Sau khi tin tức xoay quanh việc Carey nhập viện và những tổn thương về mặt tâm lý được công khai trên nhiều phương tiện truyền thông, hãng Virgin Records và 20th Century Fox hoãn lại việc ra mắt của cả Glitter cũng như bộ nhạc phim cùng tên. Do đó, các nhà phê bình nhận định rằng nếu hoãn Glitter lại, việc quảng bá cho dự án cũng sẽ giảm đáng kể, điều này có thể sẽ làm ảnh hưởng đến cả doanh thu phòng vé lẫn lượng album bán ra. Khi thảo luận về doanh thu thấp của dự án, Carey đổ lỗi cả cho tâm trạng của mình trong thời gian dự án ra mắt, việc hoãn phát hành cũng như bộ nhạc phim đã được ra mắt ngày 11 tháng 9. Các nhà phê bình đã chỉ trích gay gắt Glitter, cũng như bộ nhạc phim kèm theo nó; cả hai đều không thành công về mặt doanh thu. Album nhạc phim kèm theo, Glitter, trở thành album có doanh thu thấp nhất của Carey tại thời điểm đó. St. Louis Post-Dispatch không thừa nhận nó với lý do “một mớ hỗn độn càng ngày càng xuống cấp như những vết nhơ khó chịu trong sự nghiệp tuy không phải lúc nào cũng nhận được những lời tung hô từ giới chuyên môn, nhưng gần như thành công một cách kiên định”. Theo sau đám mây tiêu cực về đời tư của Carey vào thời gian này cũng như doanh thu ít ỏi từ dự án, hợp đồng thu âm cho 5 album với giá trị lớn chưa từng có 100 triệu đô la với Virgin Records (EMI Records) bị hủy với số tiền bồi thường là 50 triệu đô la. Ngay sau đó, Carey đáp chuyến bay tới Capri, nước Ý và ở đó trong năm tháng để sáng tác cho album mới, dựa trên những trải nghiệm cá nhân mà cô đã phải chịu đựng trong năm qua. Sau này, Carey có nói rằng quãng thời gian cô ở Virgin là “một chuỗi những ngày căng thẳng và mệt mỏi thật sự […] Tôi đã đưa ra quyết định quá vội vàng khi dựa vào tiền bạc và tôi sẽ không bao giờ căn cứ vào tiền để quyết định nữa. Tôi đã nhận được một bài học lớn từ điều đó”. Cuối năm đó, cô ký hợp đồng với Island Records trị giá hơn 24 triệu đô la và ra mắt hãng thu âm MonarC. Như đè thêm lên gánh nặng tâm lý của Carey, cha cô, người mà cô có rất ít liên lạc từ khi còn bé, chết vì bệnh ung thư trong năm đó.



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 220px-Mariah_Carey_2003_tour_1_zpse4125e0a


Vào năm 2002, Carey tham gia đóng trong bộ phim riêng WiseGirls cùng với Mira Sorvino và Melora Walters, đóng chính trong vai những cô gái hầu bàn tại một nhà hàng xã hội đen. Bộ phim lần đầu tiên được công chiếu ở Liên hoan Phim Sundance và nhìn chung nhận được những phản hồi chỉ trích tiêu cực, dù vậy khả năng diễn xuất của Carey lại được đánh giá cao; Roger Friedman của Fox News ví cô như “một Thelma Ritter của thiên niên kỉ mới”, và viết rằng “Cách diễn đạt của cô ấy rất sắc sảo và cô cũng rất thành công trong việc mang đến những tràng cười đầy ý nghĩa”. Cuối năm đó, Carey đã hát Quốc ca Mĩ tại cuộc duyệt binh của Super Bowl XXXVI ở Louisiana Superdome, New Orleans, Louisiana. Vào khoảng cuối năm 2002, Carey cho ra mắt album phòng thu tiếp theo của cô với tên gọi Charmbracelet mà cô nói là đã mang đến “một luồng sinh khí mới cho cuộc sống” của cô. Dù ra mắt sau Glitter và sự trở lại của Carey trong chuỗi các hoạt động âm nhạc, doanh thu của Charmbracelet chỉ ở mức trung bình và chất lượng giọng hát của Carey bị đem ra chỉ trích. Joan Anderson của The Boston Globe tuyên bố album “là thứ tệ nhất trong sự nghiệp của cô ấy và để lộ chất giọng không còn khả năng thể hiện sức hấp dẫn điêu luyện hay những tiếng chim gù mềm mại”, trong khi biên tập viên của Allmusic, ông Stephen Thomas Erlewine bày tỏ quan điểm tương tự, ông viết “Vấn đề lớn nhất ở đây là giọng của Mariah khá đứt hơi, nghe như bị xé ra từng mảnh trong suốt bản thu. Cô ấy có thể không còn thì thầm và ngân một cách mềm mại hay trình diễn thứ chất giọng hấp dẫn điêu luyện nữa.” Trong nỗ lực cho việc bắt đầu lại sự nghiệp sau doanh thu ít ỏi từ Glitter cũng như những tổn thương tâm lý, Carey công bố một chuyến lưu diễn thế giới vào tháng 4 năm 2003. Kéo dài hơn 8 tháng, Charmbracelet World Tour: An Intimate Evening with Mariah Carey trở thành chuyến lưu diễn có phạm vi rộng nhất của cô cho đến nay, trải rộng qua 69 buổi biểu diễn trên khắp thế giới. Trên cả nước Mỹ, buổi biểu diễn được tổ chức trong các nhà hát nhỏ hơn, và mang chút ảnh hưởng từ Broadway, “Nó trở nên thân mật hơn, vì thế bạn sẽ cảm thấy mình đang có một trải nghiệm. Bạn trải qua buổi tối cùng tôi”. Tuy nhiên, trong khi khắp các buổi lưu diễn tại Mỹ được đặt tại những địa điểm nhỏ, Carey đã biểu diễn ở các sân vận động tại châu Á và châu Âu cho đám đông hơn 35.000 người ở Manila, 50.000 người ở Malaysia, và lên đến hơn 70.000 người ở Trung Quốc. Tại Vương quốc Anh, nó trở thành chuyến lưu diễn đầu tiên của Carey có các buổi biểu diễn tổ chức bên ngoài Luân Đôn, với các điểm dừng tại Glasgow, Birmingham và Manchester. Charmbracelet World Tour: An Intimate Evening with Mariah Carey nhìn chung nhận được những ý kiến đánh giá tích cực từ các nhà phê bình và những người đến xem buổi biểu diễn, cùng nhiều lời khen ngợi về khả năng hát live của Carey cũng như công việc sản xuất nói chung.



2005–07: Sự trở lại đầy ngoạn mục với The Emancipation of Mimi



Trong suốt năm 2004, Carey tập trung sáng tác cho album phòng thu thứ 10 của cô tên gọi The Emancipation of Mimi (2005). Album được Carrey cộng tác chủ yếu với Jermaine Dupri, cũng như Bryan-Michael Cox, Manuel Seal, The Neptunes và Kanye West. Album ra mắt và hạ cánh tại vị trí số một trên các bảng xếp hạng ở một vài quốc gia, và được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt. Caroline Sullivan của tờ The Guardian nhìn nhận nó là "hay, hội tụ và hiện đại [một trong số...] những giai điệu thực thụ của Mariah Carey trong nhiều năm qua, thứ mà tôi không cần phải trả tiền để được nghe lại", trong khi Elysa Gardner của USA Today viết "những khúc ballad pha chút midtempo đã thực sự mang tự tin trở lại của giọng hát chim sơn ca, người đã vụt lên và tiếp tục bay". Đĩa đơn thứ hai của album, "We Belong Together" đã trở thành ca khúc "khẳng định lại sự nghiệp" cho Carey tại thời điểm mà nhiều nhà phê bình cho rằng sự nghiệp của cô thế là chấm dứt. Các nhà phê bình dự đoán rằng ca khúc sẽ trở thành "sự trở lại với hình mẫu" cũng như "sự trở lại với giọng ca" của cô, trong khi nhiều người tin rằng nó sẽ khôi phục lòng tin trong khả năng hát nhạc ballad tiềm ẩn của Carey. "We Belong Together" đã phá vỡ một vài kỉ lục ở Hoa Kỳ và trở thành ca khúc thứ 16 đoạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Sau khi hạ cánh ở vị trí số một 14 tuần không liên tiếp, ca khúc đã trở thành bài hát thứ hai trụ ở vị trí quán quân lâu nhất trong lịch sử ở Hoa Kỳ , xếp sau ca khúc do Carey hợp tác với Boyz II Men, "One Sweet Day". Billboard đã đưa nó vào danh sách "ca khúc của thập kỉ" và xếp thứ chín trong số những ca khúc nổi tiếng nhất mọi thời đại. Bên cạnh thành công gặt hái được trên các bảng xếp hạng, ca khúc còn phá vỡ được một số kỉ lục trong hạng mục bảng thu đã được lên sóng, và theo Nielsen BDS, ca khúc đã thu hút được một lượng người xem khổng lồ trong cả hai mục một ngày và một tuần, đông nhất trong lịch sử.



[Music Artist Wiki] Mariah Carey (thiếu) 220px-Mariah_Carey_in_August_2006_2_zps926c2f4f


Trong suốt tuần lễ từ ngày 25 tháng 9 năm 2005, Carey đã thiết lập thêm một kỉ lục khác, cô trở thành người phụ nữ đầu tiên chiếm giữ cả hai vị trí đầu trong bảng xếp hạng Hot 100 với “We Belong Together” vẫn trụ ở vị trí quán quân cùng đĩa đơn tiếp theo của cô, “Shake It Off”, đã chuyển đến vị trí á quân. (Ashanti đã đứng đầu bảng xếp hạng vào năm 2002 và đồng thời cũng góp mặt trong đĩa đơn có mặt tại vị trí thứ hai). Trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 cuối năm 2005, ca khúc được công bố là bài hát số một, bước tiến đầu tiên trong sự nghiệp của Carey. Billboard không những xếp “We Belong Together” ở vị trí thứ 9 trong danh sách Billboard Hot 100 All-Time Top Songs mà còn công bố đó là ca khúc đình đám nhất của thập kỉ 2000. Album nhận được 10 đề cử cho giải Grammy vào năm 2006-07: tám đề cử trong năm 2006 cho lần phát hành đầu tiên (số đề
Scheherazade
Scheherazade

Total posts : 262

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum