[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode)

Go down

[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Empty [Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode)

Post by Scheherazade on Sun Nov 16, 2014 8:37 pm

Rain



[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Rain1

Rain tại gala Time 100 năm 2011


Thông tin cá nhân

Tên khai sinh:Jung Ji-Hoon

Các nghệ danh khác: Bi (비), Rain, Bi Rain

Ngày sinh: 25/06/1982 (30 tuổi)

Seoul, South Korea

Nơi sinh: Seoul, South Korea

Thể loại nhạc: Pop, K-pop, R&B, hip hop

Nghề nghiệ: Ca nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, biên soạn, sản xuất ghi âm, điều hành âm nhạc, diễn viên, biên đạo múa, vũ công, nhà tạo mẫu

Nhạc cụ: Hát

Thời gian hoạt động: 1998–hiện nay

Hãng ghi âm: JYP Entertainment (2002–07) (2011-hiện nay)

J. Tune Entertainment (2007–hiện nay)

William Morris Endeavor (2009–hiện nay)

Website rain-jihoon.com



Tên khai sinh

Hangul: 정지훈

Hanja: 鄭智薰

Revised Romanization: Jeong Ji-hun

McCune–Reischauer: Chŏng Chihun



Nghệ danh

Hangul: 비

Revised Romanization: Bi

McCune–Reischauer: Pi



Jung Ji-Hoon (sinh ngày 25/06/1982), được biết đến với nghệ danh Rain, là ca sĩ, vũ công, nam diễn viên, người mẫu và nhà tạo mẫu đến từ Hàn Quốc.



Trong sự nghiệp ca hát của mình, Rain đã phát hành tổng cộng bảy album (6 album tiếng Hàn và 1 album tiếng Nhật), 19 ca khúc đơn và hàng loạt những chuyến lưu diễn khắp thế giới. Sự nghiệp điện ảnh của anh bắt đầu từ năm 2003, khi anh giành được giải thưởng KBS Best New Actor cho vai diễn trong bộ phim truyền hình Sang Doo! Let’s Go To School. Vào năm 2004, Rain chiến thắng ở hạng mục KBS Excellence in Acting cho vai diễn trong bộ phim ăn khách Full House. Sau khi đóng vai chính trong bộ phim “A Love To Kill”, anh lần đầu tiên tham gia đóng phim Hàn Quốc trên màn ảnh rộng trong bộ phim I’m a Cyborg, But That’s OK (2006). Bộ phim đem lại cho anh giải thưởng Alfred Bauer tại Liên Hoan Phim Quốc Tế Berlin. Rain còn diễn xuất trong các bộ phim Mỹ như Speed Racer (năm 2008) và đặc biệt là bộ phim Ninja Assassin (năm 2009), với vai diễn đem lại cho anh giải thưởng danh giá MTV Award và trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có được vinh dự này.



Vào năm 2007, Rain quyết định rời công ty JYP Entertainment và tự thành lập một công ty mới mang tên J. Tune Entertainment, nhưng vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với ông bầu Park Jin-young của JYP.



Thời niên thiếu



Từ khi còn nhỏ, Rain cùng em gái Jung Hanna lớn lên và dạy dỗ bởi cha mẹ, và sinh sống ở khu vực gần trường Đại Học Yonsei. Là một cậu bé nhút nhát và thụ động, anh tìm thấy niềm đam mê nhảy múa khi tham gia chương trình tìm kiếm tài năng tại trường trung học nơi anh theo học. Lúc đầu, Rain gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa nhảy múa và học tập khi anh bị điểm xấu vào thời gian theo học cuối cấp do những buổi tập nhảy chiếm phần lớn thời gian của anh. Anh đã quyết định theo đuổi giấc mơ của mình và nộp đơn vào trường trung học Nghệ thuật, nơi anh được dạy dỗ những bài học đầu tiên về diễn xuất và có thể dành thời gian cho việc nhảy múa. Sau một thời gian, Rain lại dần mất cân bằng trong việc dành thời gian giữa việc học diễn xuất và nhảy múa, khiến anh thỉnh thoảng trốn học.



Mẹ của Rain qua đời vào năm 2000 do chứng bệnh tiểu đường. Cũng trong năm ấy, Rain được tuyển trở thành học viên thực tập tại JYP Entertainment được dẫn dắt bởi nghệ sĩ thu âm và nhà sản xuất Park Jin-Young. Trong buổi phỏng vấn của đài CNN và đoạn phim tư liệu mang tên “Discovering Hip Korea” của đài Discovery Channel, Rain hồi tưởng về quãng thời gian liên tục bị từ chối vì lí do ngoại hình: “Thực sự thì, tôi được đánh giá có giọng hát và điệu nhảy tốt nhưng tôi đã không vượt qua đợt dự tuyển chỉ vì tôi không có mắt 2 mí." Tuy nhiên, cuối cùng anh cũng được nhận khi nhà sản xuất Park Jin-Young thấy được niềm đam mê và sự kiên trì trong đợt thử giọng khi Rain liên tục nhảy mà không màng đến thời gian, khác với một bài dự thi chỉ kéo dài 10 phút như bình thường. Trong thời gian chân ướt chân ráo gia nhập, anh là một vũ công phụ.



Sự nghiệp



2002 – 03: Ra mắt



Vào năm 2002, Jung lần đầu ra mắt người hâm mộ với album Bad Guy, nơi anh lần đầu sử dụng nghệ danh Rain khi trò chuyện với khán thích giả. Ca khúc chủ đạo trong album chính là “Bad Guy” và “Handshake”. Sau album đầu tay của anh, vào năm 2003, anh lần đầu tham gia diễn xuất trong bộ phim truyền hình Sang Doo! Let’s Go To School của đài KBS. Với những thành công bước đầu trong sự nghiệp ca sĩ lẫn diễn viên, Rain cho ra mắt album thứ hai, “How To Avoid The Sun” với ca khúc chủ đề “Ways to Avoid the Sun”



2004 – 2005: Trở nên nổi tiếng



Vào năm 2004, anh đóng vai chính trong bộ phim đình đám rất được ưa thích Full House cùng với một trong những nữ diễn viên Hàn Quốc nổi tiếng nhất hiện nay, Song Hye Kyo. Bộ phim có số lượt xem luôn trên mức 30% cho mỗi tập phim. Vượt qua biên giới Hàn Quốc, bộ phim trở nên nổi tiếng và được ưa thích ở các quốc gia khác như Philippins, Malaysia, Indonesia, Singapore, Việt Nam, Thái Lan, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kì, Ma rốc, Sri Lanka, Đài Loan, Israel, Campuchia và Mỹ. Màn trình diễn của anh trong bộ phim giúp anh giành giải thưởng Best Actor Award tại lễ trao giải KBS Acting Awards.



[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Rain2

Rain trong một buổi biểu diễn


Album thứ ba của anh, It’s Raining (năm 2004) bán được hơn 1 triệu bản ở thị trường châu Á. Theo như báo cáo của công ty đại diên trước đây của anh là JYP Entertainment gửi lên Korea Culture & Content Agency, It’s Raining chiếm giữ vị trí số 1 bản xếp hạng của các quốc gia sau đây tính đến ngày 29/12/2005: Nhật Bản (100,000 bản), Trung Quốc (500,000 bản), Đài Loan (70,000 bản), Thái Lan (150,000 bản), Indonesia (50,000 bản) và Hàn Quốc (154,000 bản), với tổng cộng 1,074,000 bản được bán ra.



Rain bắt đầu chuyến lưu diễn Rain Day 2005 Tour, với điểm xuất phát là thành phố Seoul, tiếp theo là thành phố Tokyo và Hồng Kông. Số lượng vé được bán sạch trong chớp mắt. Chuyến lưu diễn ấy tính ra bán ra được hơn 150,000 chỗ ngồi ở tám thành phố ở Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Buổi hoà nhạc solo đầu tiên của anh ở Nhật Bản mang tên Rainy Day Japan được tổ chức tại Tokyo International Forum bán sạch vé trong vòng 30 giây sau khi phòng vé chính thức mở cửa.



2006 – 07: Vươn ra ngoài biên giới Hàn Quốc



Album thứ tư của Rain, Rain’s World, được phát hành ở Hàn Quốc vào ngày 14/10/2006



Anh tham gia phim điện ảnh đầu tiên của mình, “I’m a Cyborg, But That’s OK” được đạo diễn bởi Park Chan-wook. Bộ phim được trao giải Alfred Bauer Award tại Liên Hoan Phim Quốc Tế Berlin lần thứ 57 và có được vinh dự trở thành bộ phim mở màn của Liên Hoan Phim Quốc Tế Hồng Kông. Ngoài ra, Rain còn được đề cử và giành chiến thắng ở hạng mục Best New Actor tại lễ trao giải Baeksang Awards lần thứ 43.



Châu Á



[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Rain3

Rain tại Bangkok năm 2007


Chuyến lưu diễn “Rain's Coming” bắt đầu từ ngày 15/12/2006, tại sân vận động Olympic Seoul thành phố Seoul và đi qua các quốc gia Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Mỹ và Canada xuyên suốt năm 2007. Tour lưu diễn của anh còn có sự tham gia của những nhà sản xuất và đạo diễn sân khấu tài năng (như Jamie King và Roy Bennett) đã có thời gian hợp tác với các ngôi sao khác như U2, Michael Jackson, Ricky Martin, Madonna, Britney Spears và The Rolling Stones. Doanh thu từ phòng vé được cho là vượt mức 100 triệu đô.



Rain ra mắt album tiếng Nhật đầu tiên của mình, Eternal Rain, vào ngày 13/09/2006. Buổi hòa nhạc của anh tại Tokyo Dome vào ngày 25/05/2007 thu hút gần 40,000 người. Rain là nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên có vinh dự biểu diễn tại Tokyo Dome, thính phòng lớn nhất ở Nhật Bản.



Mỹ



Vào tháng 4 năm 2006, trong một bài báo trên mạng của tạp chí Time magazine, Rain được xướng tên trong danh sách “100 Most Influential People Who Shape Our World” (tạm dịch: “100 Nhân Vật Ảnh Hưởng Nhất Đã Thay Đổi Thế Giới”). Năm 2007, Rain chiếm nhiều số phiếu bầu nhất trong đợt khảo sát trực tuyến của tạp chí Time Magazine, mặc dù tên anh không chính thức có mặt trong danh sách của tạp chí này. Anh cũng góp mặt trong danh sách “Most Beautiful People” của tạp chí People’s vào năm 2007.



Buổi hòa nhạc Rainy Day New York diễn ra ở Mỹ trong vòng hai ngày của anh được quảng bá bởi công ty chuyên tổ chức hòa nhạc châu Âu Rainstone Live. Vé được bán ra hết sạch trong vài ngày, và buổi hòa nhạc được tổ chức tại Madison Square Garden. Rain còn biểu diễn ở các thành phố Las Vegas, Nevada trong hai ngày 23 và 24 tháng 12 năm 2006; chỉ trong tuần lễ đầu tiên, phòng vé đã bán sạch vé Những buổi hòa nhạc này được tổ chức tại The Colosseum at Caesars Palace.



2007 – 2009: Rainism và các bộ phim Mỹ



Vào năm 2007, Rain được bình chọn bởi tạp chí People’s là một trong Những Nhân Vật Đẹp Nhất trong mục “First-Time Beaties 2007”. Trong một buổi họp báo, Rain cho biết anh rất tự hào khi hiện diện trong danh sách trên, và cho rằng đây sẽ là bệ phóng cho hình ảnh của anh được biết đến nhiều hơn ở Hoa Kỳ. Trong năm 2007, theo thống kê, anh là người giỏi kiếm tiền thứ hai ở Hàn Quốc. Cũng trong năm ấy, Rain vượt lên chiếm vị trí số 1 trong cuộc bình chọn trực tuyến của tạp chí Time: anh đánh bại Stephen Colbert với khoảng cách 100,000 phiếu; Colbert hài hước sáng tạo bản chế lại đoạn phim âm nhạc “Ways to Avoid The Sun” của Rain với tên gọi “He’s Singin’ In Korean” nhằm trả đũa. Sau đó, Stephen Colbert thánh thức Rain tham gia thi nhảy múa với ông. Vào ngày 05/05/2008, Rain bất ngờ xuất hiện dưới tư cách khách mời vào cuối chương trình The Colbert Report và thi tài nhảy cùng với Colbert sử dụng máy Dance Dance Revolution.



[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Rain4

Rain trong buổi biển diễn sau chặng đua Sepang International Circuit F1 năm 2011, tại Malaysia.


Vào ngày 16/10/2006, Rain ra mắt album tiếng Hàn thứ 5 của mình, Rainism. Rain phát hành ca khúc đầu tiên trong album, “Love Story” với đoạn phim âm nhạc có sự góp mặt của diễn viên Hàn Quốc nổi tiếng Ha Ji-Won, và nối tiếp là bài hát “Rainism”. Ngày 24/11/2008, Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Lợi Thanh Thiếu Niên đánh giá album của Rain, Rainism, không phù hợp cho trẻ dưới 19 tuổi với nguyên nhân cốt lõi nằm ở ca khúc “Rainism”. Trong bài hát này, lời nhạc (được dịch từ tiếng Hàn) “Trembling inside your shaking body is my magic stick/ Feeling the impassable limit of the body shake” (tạm dịch: rung lên trong người em là chiếc gậy nhiệm màu của anh/ Cảm nhận giới hạn không thể vượt qua của thân thể quằn quại) được cho là có vấn đề vì những hình ảnh ẩn dụ liên quan đến sinh lý và giới tính. Rain sau đó đã phải tung ra “bản sạch” của Rainism thời gian ngắn sau đó, nhưng thay vì sửa đổi thành phần trong bài hát, anh gắn thêm mác “không phù hợp cho trẻ dưới 19 tuổi” trên album.



Vào năm 2008, anh tham gia bộ phim điện ảnh Mỹ đầu tiên của mình, Speed Racer được đạo diễn bởi anh em Wachowski, với vai diễn tay đua Taejo Togokahn. Anh lần đầu đóng vai chính trong bộ phim Ninja Assassin (năm 2009) khi nhập vai nhân vật nam chính Raizo. Ninja Assassin được đạo diễn bởi James McTeigue, và sản xuất bởi Joel Silver và anh em Wachowski. Dự án này lấy nguồn cảm hứng từ những cảnh quay ninja trong bộ phim trước đó của anh là Speed Racer, sau khi Rain gây ấn tượng mạnh với anh em Wachoski qua khả năng hóa thân đóng cảnh hành động. Anh nhận giải Biggest Baddas Award tại lễ trao thưởng MTV Movie Awards năm 2010 với vai diễn được đánh giá cao trong Ninja Assassin.



Vào tháng 10 năm 2009, để hỗ trợ quảng bá album Rainism, Rain tổ chức chuyến lưu diễn vòng quanh châu Á The Legend of Rainism Tour với điểm xuất phát là hai buổi biểu diễn tại Nhà Thi đấu Olympic tại Seoul vào các ngày 9 và 10 tháng 10. Tiếp theo đó, anh vòng qua các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Indonesia và kết thúc chuyến lưu diễn tại The Colosseum at Caesars Palace ở thành phố Las Vegas bang Nevada vào các ngày 24 và 25 tháng 12 năm 2009.



2010: Trở về Hàn Quốc



Vào ngày 06/04/2010, Rain tung ra album nhỏ đặc biệt với tựa đề Back To Basic bao gồm hai ca khúc “Love Song” (với sự góp mặt của nữ diễn viên Hàn Quốc Han Ye-seul trong đoạn phim âm nhạc) và “Hip Song”.



Vào khoảng cuối tháng 9 đến đầu tháng 12 năm 2010, Rain tham gia đóng bộ phim truyền hình The Fugitive: Plan B (Tiếng Hàn: 도망자). Bộ phim được phát sóng trên kênh KBS2 với dàn diễn viên danh tiếng: nữ diên viên chính Lee Na-young, và các diễn phụ như Lee Jung-jin, Daniel Henney, Yoon Jin-seo và hai nam diễn viên Nhật Bản Takako Uehara và Takanaka Naoto.



Anh lần thứ hai có mặt trong danh sách TIME 100. Vào tháng 10, Rain đại diên cho Hàn Quốc biểu diễn tại Liên Hoan Âm Nhạc Châu Á lần thứ 7, được tổ chức bởi Korea Foundation for International Cuture Exchange (tạm dịch: Quỹ Trao Đổi Văn Hóa Quốc Tế của Hàn Quốc) tại sân vận động Olympic Seoul.



2011: Thời gian nhập ngũ



Trong buổi họp báo của bộ phim The Fugitive: Plan B vào ngày 27/09/2010, Rain thông báo về việc dời lại thời gian nhập ngũ của mình để hoàn tất việc lấy bằng thạc sĩ. Anh hoàn tất việc đóng phim vào tháng 9 với bộ phim R2B: Return to Base, phiên bản làm lại của Red Scarf. Trong bộ phim này, anh đóng vai một phi công lắm tài nhiều tât trong đội không quân đặc biệt, nhưng bị giáng xuống đội bay cận chiến bình thường. Cùng với anh còn có sự góp mặt của các diễn viên gạo cội như Kim Sung-Soo, Yoo Jun-sang, Lee Jong-seok, Lee Hana; đạo diễn bởi Kim Dong-hoon, và khởi chiếu vào tháng 8 năm 2012.



Vào ngày 23 tháng 9, anh cho biết sẽ nhập ngũ kể từ ngày 11 tháng 10. Anh gia nhập doanh trại binh đoàn bổ sung 206 ở thành phố Uijeongbu tỉnh Gyeonggi-do trong vòng 21 tháng. Vào tháng 3 năm 2012, Rain chuyển đơn vị sang Cục Truyền Thông Phòng Vệ của Bộ Phòng Vệ Quốc Gia ở Yongsan-dong, Yongsan-gu, Seoul. Vào tháng 4, anh vinh dự trở thành Đại Sứ Danh Dự của quân đội.



Nghệ thuật và Hình ảnh



Âm nhạc



Phong cách, lời nhạc và chủ đề



Kể từ khi lần đầu ra mắt người hâm mộ, nhạc của Rain chủ yếu mang phong cách R&B và pop được thể hiện qua các bài hát của anh. Nếu “Bad Guy” và “How to Avoid the Sun” thuộc thể loại R&B thì “Cassiopeia” và “Lack of Space” lại mang hơi hướng nhạc pop. Khi ra mắt It’s Raining, Rain cùng với Park Jin-young pha trộn thêm phong cách hip hop được thấy qua bài hát trên.



Khi mới bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn những nhạc phẩm của Rain được viết vào sáng tác bởi JYP Entertainment cùng với một số nhạc sĩ khác (thỉnh thoảng Rain cũng tham gia sáng tác). Sau khi rời JYP Entertainment, Rain bắt đầu viết nhạc và sáng tác cho riêng mình với sự hợp tác của một số nhạc sĩ khác trong J. Tune Entertainment. Chủ đề chính được thể hiện qua các bài hát của Rain xoay quanh tình yêu và sự đau khổ (trong bài “I Do” và “Love Story”). Trong một vài trường hợp, chúng kể về cá nhân anh (“Can’t Used to It”, “My Way”), sự khoái lạc (“Rainism”, “Touch Ya”) hay những bữa tiệc (“Hip Song”, “Free Way”)



Giọng hát



Giọng hát của Rain được xếp vào giọng nam trung và được miêu tả là mượt và hơi khàn khàn như trong bài hát “Love Story”, “Love Song”, “Nan” và “I Do”. Với sự ảnh hưởng của R&B Mỹ, anh sử dụng vibrato (giọng rung) và falsetto (giọng the thé) trong nhiều bài hát và thêm phần hát rap ở một số ca khúc như “What’s Love”. Rain luôn giữ vững lập trường không bao giờ hát nhép trong các buổi biểu diễn trực tiếp.



[Music Artist Wiki] Rain (Cần BBCode) Rain5

Rain trên ảnh bìa KoreAm số tháng 6 năm 2007


Ảnh hưởng



Về mặt ca hát và nhảy múa, Rain chịu ảnh hưởng lớn của các ngôi sao Michael Jackson, Janet Jackson, Usher và Justin Timberlake.



Hình ảnh



Rain được xem là một “ngôi sao thế giới” nhờ vào danh tiếng của anh, không chỉ gói gọn trong khu vực Hàn Quốc-Nhật Bản mà còn bành trướng ra các thị trường nhạc ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ với lượng người hâm mộ đông đảo từ Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Canada và Mỹ. Sự nổi tiếng của anh còn đến từ việc tham gia diễn xuất (từ các bộ phim truyền hình nhiều tập như Full House, phim điện ảnh màn ảnh rộng như I’m a Cyborg, But That’s OK cho đến quả bom tấn Ninja Assassin). Trước khi góp mặt trong bộ phim Speed Racer, anh đã thổ lộ ước muốn đưa tên tuổi của mình vươn xa ra khỏi vùng đất châu Á khi cho biết trong một cuộc phỏng vấn: “Lí do mà tôi tập trung vào thị trường Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc và các quốc gia khác ở châu Á là vì tôi muốn thành công một cách vững chắc ở đấy trước khi vươn mình tiến ra các thị trường quốc tế khác… Tôi muốn được xem như một nghệ sĩ châu Á hàng đầu đến từ thị trường châu Á, trước khi khẳng định tên tuổi ở Hoa Kỳ.”



Thành công của Rain trên mọi nơi anh đặt chân đến giúp anh trở thành ngôi sao Hàn Quốc được trả nhiều cát xê nhất với lượng tiền từ 1 triệu đến 1 triệu rưỡi cho mỗi lần xuất hiện trên sân khấu. Theo năm tháng, anh tham gia quảng cáo ở nhiều thương hiệu như: Hyundai, Lotte, KB Card, Pizza Hut, công ty sữa Thái Lan Dutch Mill, hãng bánh kẹo Trung Quốc Fu Mu, Pantech, LG Electronics, SK Telecom và Pepsi. Rain thậm chí biểu diễn một vài bài hát như một phần của hợp đồng quảng cáo. “Still Believe” được sử dụng để quảng cáo và đoạn phim âm nhạc quảng bá chiến dịch “Meet The Truth” của hãng xe BMW ở Hàn Quốc với sự xuất hiện của Rain lẫn JYP. “Memory in My Hand” và “Any Dream” được sử dụng để quảng bá lần lượt cho Pantech và Samsung ở Trung Quốc.



Với sự nổi tiếng lan rộng một cách mạnh mẽ trên toàn thế giới, anh được cho là đại sứ văn hóa khi đại diện Hàn Quốc tham gia các sự kiện âm nhạc châu Á và thậm chí xuất hiện trong sách giáo khoa bên Thái Lan.



Những tranh chấp pháp luật và những buổi diễn bị hủy



Vào tháng 2 năm 2007, Rain cùng với công ty đại diện của anh JYP Entertainment và công ty tổ chức biểu diễn ca nhạc Wellmade STAR M Corporation bị vướng vào vụ kiện tụng về bản quyền của cái tên ‘Rain”, khởi kiện bởi công ty ghi âm Rain Corporation của Mỹ. Theo như công ty này, họ đang hợp tác với một ban nhạc khác mang tên “Rain” và yêu cầu Rain từ bỏ nghệ danh ấy mỗi khi biểu diễn ở Hoa Kỳ. Vào tháng 6 năm 2007, vụ kiện kết thúc vì quan tòa quận Nevada chỉ ra rằng công ty khởi kiện Rain Corporation không có đủ bằng chứng cho thấy họ sẽ bị ảnh hưởng vì sự trùng tên này.



Trong chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới World Tour vào năm 2007, những buổi biểu diễn ở Thượng Hải, Toronto, San Francisco và Hawaii bị hủy cùng với buổi diễn cuối cùng ở Los Angeles. Buổi diễn cuối cùng tại Trung Tâm Staples bị hủy 2 tiếng trước khi chính thức mở màn: nhà sản xuất của Rain đã đổ lỗi cho vấn đề tài chính của công ty tổ chức địa phương, trong khi công ty nọ cho rằng Wellmade STAR M “không đủ sức giải quyết vấn đề”.



Vào ngày 19/03/2009, quan toàn điều tra của Honolulu phát hiện ra rằng Rain, công ty đại diện của anh JYP Entertainment, và hai công ty tổ chức khác đã vi phạm hợp đồng kí kết và lừa gạt công ty tổ chức của Honolulu là Click Entertainment khoản tiền 2 triệu đô (lúc đầu chỉ là 1 triệu đô) sau khi buổi biểu diễn ở Hawaii bị hủy bỏ. Công ty chịu trách nhiệm tổ chức đã không hoàn trả số tiền $ 500,000 bản quyền. Rain và JYP, mỗi bên buộc phải trả 2.4 triệu đô trong bản án cùng với khoản tiền 1 triệu đô cho vụ lừa gạt, và 2.3 triệu đô vì đã vi phạm hợp đồng.



Một vụ kiện khác của công ty Wellmade STAR M đã bị bãi bỏ bởi tòa án Hàn Quốc ngày 28/01/2010. Thẩm phán Bae Kwang-Kuk xét xử có lợi cho Rain khi cho đổ lỗi nguyên đơn về những sự chuẩn bị tồi tệ xoay quanh chuyến lưu diễn bị hủy ở Hoa Kỳ.



Những hoạt động khác



Six to Five



Six to Five là hãng thời trang đầu tiên của Rain, do ước mơ của anh là trở thành một nhà thiết kế thời trang. Hãng được khai trương vào ngày 23/13/2008 và tiếp nối bằng màn “trình diễn thời gian-tiệc mừng khai trương-buổi hòa nhạc nhỏ” để giới thiệu Six to Five. Rât nhiều ngôi sao đã có mặt để ủng hộ anh, bao gồm Lee Hyori, Kim Suna, Chae-Rim và Seohyun của nhóm nhạc Girls’ Generation. Anh tham gia thiết kế và tạo mẫu quần áo. Nhãn hiệu “Six to Five” được Rain miêu tả ý tưởng về việc có thêm một giác quan (nghĩa là từ 5 giác quan lên 6 giác quan). Cái tên này cũng được dùng để ám chỉ ngày sinh của anh, 25/06. Tuy nhiên, hãng thời trang này cùng quầy bán hàng trên mạng đã ngừng hoạt động vào cuối năm 2010.



J. Tune Entertainment



Vào tháng 11 năm 2007, Rain thông báo với giới truyền thông Hàn Quốc về việc rời khỏi công ty JYP Entertainment và mở riêng cho anh công ty J. Tune Entertainment (Trước đó được biết đến dưới cái tên Rainy Entertainment). Anh trở thành CEO của công ty, nhưng cũng khẳng định vẫn mối quan hệ thắm thiết cùng với người thầy và là người huấn luyện lâu năm của anh, Park Jin Young. J. Tune Entertainment còn có một chi nhánh nhỏ là J. Tune Camp, trình làng nhóm nhạc nam MBLAQ vào tháng 10 năm 2009. Rain trực tiếp đóng vai trò quan trọng trong những ca khúc của MBLAQ trong nhiều vai trò như sáng tác, soạn nhạc, sản xuất và biên đạo múa.



Vào tháng 12 năm 2010, Park Jin Young cho biết công ty J. Tune Entertainment sẽ hợp nhất cùng công ty JYP Entertainment. JYP trở thành cổ đông lớn nhất của J. Tune Entertainment và đây được xem là sự hợp tác mang tính chiến thuật giữa hai công ty.



Những hoạt động nhân văn



Từ năm 2005 đến năm 2007, Rain đã quyên góp số tiền anh có để xây 50 giếng nước và sân vui chơi cho trẻ em ở Campuchia. Anh bắt đầu tập trung nhiều hơn vào trẻ em với việc tham gia Love Photography Exhibition (tạm dịch: Buổi Triển Lãm Ảnh Tình Thương) để giúp đỡ trẻ em mồ côi (đang sống dưới sự bảo hộ của chính quyền) được các bố mẹ nuôi nhận. Anh thậm chí góp một phần số tiền từ chuyến lưu diễn quanh thế giới World Tour năm 2006-2007 cho trẻ em mồ côi bị AIDS, và góp mặt trong chiến dịch Green Ribbon Hope Walking để gây quỹ từ thiện ngăn ngừa bệnh và tìm kiếm những đứa bé bị mất tích. Nhờ vào những đóng góp này, anh được chọn làm đại sứ HIV/AIDS của World Vision. Trong những năm gần đây, Rain quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường và thậm chí làm tình nguyện viên trong vụ tràn dầu ngoài biển Taean. Anh còn đóng góp 300 triệu won nhằm cung cấp nước sạch và quần áo cho những người dân khu vực ấy vào năm 2008. Năm 2009, Rain có mặt trong chiến dịch MTV EXIT nhằm chống đối việc buôn người bất hợp pháp ở châu Á và xuất hiện trong đoạn phim phóng sự đặc biệt MTV EXIT nhằm chỉ ra sự thật trần trụi về những vụ mua bán ấy. Anh chỉ ra rằng mọi người ai cũng có thể góp phần sức lực và đưa thêm thông tin về những phương pháp bảo vệ chính họ cũng như làm thế nào chặn đứng nạn mua người này. Theo năm tháng, anh đã kết hợp tổ chức và biểu diễn các buổi hòa nhạc trong trong nhiều hoạt động từ thiện khác nhau.



Các ca khúc âm nhạc



Xem thêm chi tiết tại Rain Discography



Tiếng Hàn



Album phòng thu



2002: Bad Guy

2003: How to Avoid the Sun

2004: It's Raining

2006: Rain's World

2008: Rainism



Album mở rộng



2010: Back to the Basic



Tiếng Nhật



Album phòng thu



2006: Eternal Rain

2008: Rainism



Album mở rộng



2012: Back to the Basic



Tập hợp từ nhiều đoạn phim ngắn



2006: Early Works



Đĩa đơn



2006: "Sad Tango"

2006: "Free Way"

2006: "Move On"

2006: "I Do"



Các chuyến lưu diễn



Bi Rain 2 World 2 Asia Tour và hơn 200 Big Solo Concert gồm



2005: Rainy Day Tour

2006/07: Rain's Coming World Tour

2009/10: The Legend of Rainism Tour

2011: The Best Show Tour



Sự nghiệp diễn xuất



Phim điện ảnh



NămTên bộ phimVai diễnGhi chú
2006I'm a Cyborg, But That's OKPark Il-sun43rd Baeksang Arts Awards
 
Thắng giải Best New Actor
 
2007 Grand Bell Awards
 
Thắng giải Overseas Popularity Award
2008Speed RacerTaejo Togokahn 
2009Ninja AssassinRaizo2010 MTV Movie Awards
 
Thắng giải Biggest Badass Star
2012R2B: Return to BaseĐội trưởng Jung Tae-Yoon 


Phim truyền hình



NămTên bộ phimVai diễnGhi chú
2002The King of Disco Parody
2002OrangeChính anhXuất hiện thoáng
2003Run Ma MaChính anhXuất hiện thoáng
2003Sang Doo! Let's Go to School'Cha Sang-doo2003 KBS Drama Awards
 
Thắng giải - Best Male Artist Award
 
Thắng giải - Best New Actor Award
 
Thắng giải - Netizen Actor Award Of The Year
 
Thắng giải - Best Couple (với Gong Hyo Jin)
2004Full HouseLee Young-jae2004 KBS Drama Awards
 
Thắng giải – Popularity Award
 
Thắng giải - Artist Of The Year
 
Thắng giải - Best Actor Award
 
Thắng giải - KBS Excellence Award
 
Thắng giải – Best Couple Award (với Song Hye Kyo)
 
2004 Andre Kim Star Awards
 
Thắng giải – Andre Kim Star Actor Award
 
40th Baeksang Arts Awards
 
Thắng giải – Popularity Award
2005Banjun DramaChính anhThoáng xuất hiện
2005A Love to KillKang Bok-gu2005 KBS Drama Awards
 
Thắng giải – Popularity Award
 
2006 Asia TV Awards
 
Thắng giải – Best Movie Style
 
2006 RTHK International Pop Poll Awards
 
Thắng giải – Top New Star
2008Family OutingKhách mời tập 21 & 22  
2010The Fugitive: Plan BJi-woo  


Người dịch: YaMiDowaKi



Nguồn: Wiki

Scheherazade
Scheherazade

Total posts : 262

Back to top Go down

Back to top


 
Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum